• tiểu thuyết lịch sử | All, S, T,



Nguyễn Ước TRĂNG HUYẾT Tập II



Phần Thứ Ba Sông Hương 1936, Chương 1





Bước nhàn tản trên những con đường Sài G̣n đầy bóng mát lần thứ nhất kể từ năm 1925, Joseph tự hỏi phải chăng anh đang bị chính giác quan của ḿnh đánh lừa. Trên đầu anh, hàng me hai bên đường Catinat héo hắt như đang chết rủ trong cái nóng ngột ngạt tháng Tư nhưng ngược lại, không khí thấm đẫm ẩm ướt ứ đọng nơi cổ họng dường như tạo ra trong anh một cảm giác ngần ngật và khích động, vừa bồn chồn vừa mơ hồ dễ chịu. Cùng lúc ấy, toàn bộ hệ thần kinh trong người cũng có vẻ như đang giản ra và dàn rộng để hấp thu càng nhiều ấn tượng càng tốt về cái thành phố từng sống quá đổi buốt nhói trong kư ức anh suốt mười một năm nay, kể từ lần ghé lại trước đây.



Ở tuổi hai mươi sáu sung măn, thân h́nh cao lớn, vai rộng, vẻ mặt c̣n đôi nét trẻ thơ nhưng đày đặn của thanh niên đang thời kỳ trưởng thành, khuôn mặt Joseph thuộc loại đẹp trai như tượng tạc, so ra không kém chút nào vẻ mặt từng được trời ban cho người anh quá cố của ḿnh.



Joseph vừa đi vừa thầm nhủ có lẽ ḿnh cũng từng cảm xúc y như thế này trong một kỷ niệm không thể nào quên. Có thể đó là chuyến đi xe kéo đầu tiên với Chuck chạy qua mấy đại lộ của thành phố dù lúc này, thật ra anh chẳng c̣n nhớ chính xác cảm giác của ḿnh trong buổi chiều xưa ấy ra sao. Cũng có thể sự đánh thức lại cơn đau đớn anh đă chịu khi nghe tin Chuck tử nạn khiến lúc này, cảm giác và nhận thức của anh bốc lên cao lạ thường.



Sau khi một ḿnh dùng bữa tối tại Khách sạn Continental, Joseph thơ thẩn đi dạo qua những con đường vắng lặng trong khu vực cư dân phía bắc nhà thờ Đức Bà. Anh tưởng chừng ḿnh có thể phân biệt chính xác trong hương đêm đậm đà những mùi toả ra từ các vườn hoa rậm rạp bên trong ṿng rào quanh các biệt thự sang trọng kiểu Pháp - mùi mốc ẩm ướt từ hầm nhà xông lên làm phai bạc những bức tường màu xám nhạt, mùi thối rữa của đất ẩm và lá khô. Những mùi ấy quyện với hương thơm nồng nàn của hoa lài, hoa anh thảo, đu đủ và vô số hoa quả nhiệt đới khác mà anh không bao giờ biết rơ tên từng loại, cùng nhau xông thẳng lên đầu làm ngất ngây trí năo.



Joseph nghe văng vẳng bên tai những giọt dương cầm thánh thót và trong trẻo từ một bao lơn lặng khuất nào đó, kèm theo là tiếng cười của nhiều người Pháp và tiếng ly cụng vào nhau. Những âm thanh ấy kéo dài trong một lúc và vang lên rơ hơn bởi không khí ẩm ướt chung quanh như làm nổi bật thêm trong anh tính chất ngụy biện về sứ mạng khai hoá của các tây thuộc địa ở Đông Dương.



Dưới mắt Joseph, tại những đường phố trong khu vực người bản xứ chung quanh chợ Bến Thành, lề đường dường như ngất ngây sinh động với màu sơn ta mộc mạc và đậm đà. Trong ánh sáng lập loè của những ngọn đèn khí đá, da thịt người nhà quê An Nam ở trần óng ánh như vàng khi họ cúi ḿnh bên những ụ cao rau quả nhiệt đới xanh biếc bóng lưỡùng. Tại các tủ cho vay tiền bên lề đường, các phụ nữ Ấn Độ, quấn xà-rông đỏ và vàng loè loẹt quanh thân thể màu nâu khi ẩn khi hiện, mặt đầy vẻ thuần phục. Dọc rănh nước bên đường, những người An Nam huyên náo khác đang chơi cờ bạc bằng hột xí ngầu hoặc bài tây, và các cu-li xe kéo co ro ngồi nghỉ mệt, xúc cơm đưa lên miệng bằng bàn tay cầm th́a đầy bụi bặm. Trước các tiệm mặt đường đang mở cửa, những nhà buôn béo phệ người Tàu lắp bắp quảng cáo hàng hoá của ḿnh bằng tiếng Quảng Đông xuỵt xoạt.



Giữa tất cả những tiếng đời huyên náo và rộn ràng ấy, Joseph bắt gặp thấp thoáng sau cánh cửa hé một bàn thờ lung linh ánh nến, bên trên an vị mấy pho tượng Phật bằng đồng và bài vị tổ tiên. Anh dừng chân nh́n vào và thấy một người An Nam khoác áo thụng bằng lụa màu lam, râu cằm lưa thưa, đang thắp hương rồi bắt đầu tụng thời kinh tối. Vẻ mặt chan ḥa an tĩnh và tràn đầy cung kính của ông lăo khi phủ phục h́nh hài mảnh khảnh xuống mặt chiếu khiến tâm trí Joseph bỗng nhớ lại, một cách sống động, cuộc lễ khấu đầu bày tỏ ḷng trung quân trong ngày Tết Nguyên đán thuở nào anh đă cùng mẹ chứng kiến tại Điện Thái Hoà ở cố đô Huế.



Tới lúc này Joseph hiểu rơ hơn bao giờ hết rằng trí óc non nớt mười lăm tuổi của ḿnh đă chịu ảnh hưởng sâu đậm biết bao bởi những nếm trải trong chuyến đầu tiên ghé lại xứ sở này. Đột nhiên anh nhận ra, một cách sắc nét, rằng chính đôi ba phút ngất ngây bên ngai vàng của Hoàng đế Khải Định đă khiến anh không thể nào chấp nhận cuộc sống quân ngũ theo ư muốn của cha ḿnh. Các cảnh tượng ngoại lai Á Đông tại kinh thành xưa cũ của An Nam đă như những liều thuốc kích thích xông thẳng lên năo anh. Rồi chúng lắng xuống và đọng lại trong tâm tư khiến ḷng mê say lịch sử trước đó của anh tự nó đặt trọng tâm và cố định vào phương Đông. Có lẽ nhờ thế, anh được tuyển vào đại học Harvard, nối tiếp bước chân người anh đă khuất.



Tối nay Joseph cũng nhận ra rằng việc ḿnh quyết định chọn chuyên đề lịch sử Á Đông chỉ có thể phát xuất từ khoảnh khắc tiếp xúc với một trong những nghi lễ đẹp mắt của nước An Nam có quá khứ nhuốm đầy tinh thần Khổng Mạnh. Anh học ngôn ngữ Trung Hoa để có thể làm việc trên bản nguyên văn của những tài liệu thời cổ và của những hoàng đế vĩ đại thuộc các triều đại Hán Đường Tống Nguyên Minh và Thanh, những người trước đó anh đă đọc rất kỹ. Rơ ràng, tất cả những ǵ tái hiện trong con mắt tâm trí của Joseph chỉ là các biến thái từ h́nh ảnh được điểm trang bằng châu ngọc của Khải Định, vị quốc chủû ngồi trên ngai vàng lộng lẫy khi anh vào quan chiêm Điện Thái Ḥa mười một năm về trước.



Sau khi ra trường, nỗi ám ảnh dai dẳng về vấn đề đó đă đẩy Joseph vào một công tŕnh nghiên cứu sâu xa hơn. Anh bảo vệ xong luận án tốt nghiệp tiến sĩ về các quốc gia triều cống “Trung Hoa: nước trung tâm” gồm Triều Tiên, Miến Điện, Xiêm, Mông Cổ, Tây Tạng và An Nam - suốt trong nhiều thế kỷ đều công nhận quyền tối thượng của hoàng đế Trung Hoa qua những cống phẩm thường kỳ bằng bạc và nhiều loại châu báu. Nghiên cứu ấy sắp được xuất bản thành sách.



Khi tiếp tục bước nhàn tản qua trung tâm thành phố Sài G̣n oi ả Joseph chợt có ư nghĩ rằng chính đề tài ấy đă được quyết định vào năm 1925, trong cuộc thăm viếng lần đầu và có tính định mệnh của anh tại xứ sở An Nam này. Qua sự chọn lựa chuyên đề các chư hầu của Đế quốc Trung Hoa phải chăng chính tiềm thức của anh đă t́m lư do để đưa anh quay lại vùng đất đang sống măi trong anh bằng những hồi tưởng vừa xót xa vừa cay đắng?



Chính Joseph tự đề xuất ư kiến rằng anh cần tiến hành thêm một số nghiên cứu trong các văn kiện lưu trữ của Trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội để có những am hiểu vững vàng và thẩm quyền hơn cho những chương viết về An Nam trong lần xuất bản sắp tới. Sau khi ư kiến ấy cùng các kế hoạch nghiên cứu đề tài được giáo sư bảo trợ tại Đại học Harvard chấp thuận, Joseph mới mơ hồ nhận ra rằng động cơ của việc anh ao ướùc quay lại xứ sở này có lẽ không chỉ đơn thuần là nhiệt tâm học thuật.



Trong những tuần lễ trước khi bắt đầu chuyến vượt đại dương dài ngày, Joseph thấy ḿnh càng lúc càng suy nghĩ tới cuộc săn bắn đă kết thúc cực kỳ bi thảm với cái chết của người anh mà ḿnh vừa ganh tị vừa ái mộ. Tuy họa hiếm lắm Joseph mới ghé thăm Nhà Bảo Tàng Chuyên Ngành Vạn Vật Học Sherman tại Washington nhưng trước ngày rời Hoa Kỳ anh có tạt ngang đó, ngắm nhóm động vật trâu rừng, hươu và min do Chuck và cha anh bắn hạ. Thấy những con thú ấy được trưng bày như chúng đang sống trong môi trường rừng nguyên sơ, ḷng Joseph lại nao nao những xúc động tưởng đă đào sâu chôn kín suốt hơn mười năm qua.



Rồi trong cuộc hành tŕnh dài ngày từ Vancouver đi Hồng Kông trên con tàu khách của hăng Thái B́nh Dương Canada, Joseph thấy ḿnh mỗi ngày một thêm bâng khuâng. Kế đó, anh đi tiếp đến Sài G̣n trên một con tàu chạy bằng hơi nước của Công ty Vận tải Đường biển của Pháp xuất phát trước đó ở Marseilles. Khi bắt gặp hai ngọn tháp song đôi của Nhà thờ Đức Bà Sài G̣n thấp thoáng nhảy nhót trên các ngọn cây bên ḍng sông Ḷng Tảo khúc khuỷu và lộng gió, Joseph thêm lần nữa cảm nhận vẻ mê hoặc dị thường của xứ nhiệt đới từng làm ngây ngất tâm trí thơ dại của anh nhiều năm trước đây.



Quang cảnh Rừng Sác xanh thẩm ăn tràn ra mé nước hai bên ḍng sông mang bồng bềnh trở lại tâm trí Joseph những kư ức lắng đọng lâu năm ở tận đáy sâu tiềm thức. Lệ bắt đầu trào lên mắt khi anh nhớ lại người anh quá cố từng hào hứng sôi nổi biết bao về viễn tượng săn bắn tại đây, trong buổi sáng đầu tiên hai anh em cùng đứng dựa lan can con tàu đi ngược ḍng sông này. Kế đó, dù với nụ cười gượng gạo, Joseph vẫn nhớ tới một khoảnh khắc hạnh phúc hơn và cảm giác hưng phấn lớn lao tiếp theo cuộc khải hoàn thầm lặng của bản thân ḿnh nơi sóc Mọi. Cùng với những hoài cảm ấy, Joseph c̣n cảm thấy có linh cảm bồn chồn bứt rứt, như báo hiệu một điềm gỡ có thể lúc này đang lơ lửng đâu đó trên vùng đầy bóng tối bên ngoài kư ức của anh.



Trong thời gian con tàu từ cửa Cần Giờ lần đường cập bến cảng Sài G̣n, Joseph có một giấc mộng không lớp lang, lẫn lộn lung tung các h́nh ảnh đầy xáo lộn của những gă tây thuộc địa người Pháp hung ác, con trâu rừng bị bắn gục, những ông quan khấu đầu trong cung điện bằng vàng, Và vật vờ giữa cảnh tượng hỗn mang đó là h́nh ảnh của Chuck cùng cha mẹ anh như những bóng ma hồn ĺa khỏi xác, không thể hoặc không muốn thấy anh hoặc không giao cảm được với anh.



Chới với và hoàn toàn bị bỏ lại cô đơn trong giấc mộng, Joseph thêm lần nữa nếm trải cảm giác choáng váng cực độ và hoang mang hiu quạnh anh từng phải chịu trong cơn băo nửa đêm nơi trại săn trong rừng. Rồi anh choàng tỉnh trên giường, toàn thân đẫm mồ hôi lạnh.



Vừa tới Sài G̣n Joseph ngạc nhiên thấy chuyến ghé lại thứ nhất đầy bất hạnh của gia đ́nh Sherman không bị người đời hoàn toàn quên lăng. Một nhà báo Pháp lanh lợi thường để ư khách mới đến, nhớ ra danh tính gia đ́nh người Mỹ nổi tiếng với thảm kịch được đăng trên trang nhất năm 1925. Joseph liền bị phỏng vấn và chụp h́nh ngay trong pḥng ḿnh ở Khách sạn Continental Palace cho một tờ báo thuộc địa.



Bài phóng sự đó kèm theo h́nh của Joseph xuất hiện trên ấn bản buổi tối, viết đại khái những nét chính về chuyến viếng thăm hiện nay của anh và đề cập tới những con thú do cha và người anh quá cố của anh đă bắn được ở An Nam thuở ấy, nay là những vật triển lăm chủ yếu tại Nhà Bảo tàng Sherman ở thủ đô Washington.



Joseph mang theo ḿnh một tờ khi đi dạo. Lúc về lại khách sạn, anh thả người xuống chiếc ghế mây kê sát cửa sổ nơi tầng trệt, đưa mắt đọc lướt bài báo lần nữa trong khi chờ người hầu bàn bưng thức uống ra.


- Th́ ra anh đă trở về đây để xem nàng công chúa Mọi nhỏ bé có c̣n mong ngóng ḿnh nơi cung điện ám khói trong rừng, phải không Joseph?



Có giọng nói bằng thứ tiếng Anh chưa đủ trọng âm sát bên tai làm Joseph giật nảy người. Anh quay lại, thấy trước mắt ḿnh bộ mặt tươi cười hớn hở của một đại úy Bộ binh Thuộc địa Pháp. Trong một thoáng Joseph ngơ ngác nh́n khuôn mặt đẹp trai rám nắng, dí dỏm với bộ ria cắt tỉa gọn ghẽ, đôi ủng cao cùng búp nịt bóng loáng và bộ quân phục ủi thẳng nếp, không một t́ vết.


- Chớ nói với tôi là “chàng thanh niên Mỹ đa t́nh” không nhận ra kẻ tháp tùng anh ta trong chuyến đầu tiên lẻn đi gặp đàn bà.



Viên đại úy vừa nói vừa làm bộ tức tối giở chiếc mũ màu trắng xuống để lộ mái tóc quăn dày và sẩm màu.


- Cũng chớ nói với tôi là lần này anh không chịu đi. Tôi đă chuẩn bị sẵn ô-tô cùng ngựa. “Già làng” đă mở sẵn nắp ché “rượu cần”...



Tiếng cười sang sảng của người Pháp ấy khiến mọi người đang có mặt trong tầng trệt ngoảnh đầu về phía hai người. Joseph tần ngần kéo ghế đứng lên, rồi ch́a tay. Anh nói ấp úng:


- Tôi khó mà tin nổi! Thật Paul Devraux đây sao?



Viên sĩ quan Pháp nồng nhiệt đưa cả hai tay ḿnh ra chụp lấy bàn tay của Joseph:


- Thật, thật đấy. Vừa thấy h́nh anh trên báo tối nay, tôi đi thẳng một mạch tới đây ngay.



Vẫn toét miệng cười Paul nghiêng đầu sát hơn, nói vô tai Joseph, làm bộ như thầm th́:


- Có lẽ tôi phải báo động cho anh trước khi tụi ḿnh rời chỗ này đi lên bản Mọi - đàn bà ở đó mau già lắm. Nàng béo rất lẹ và lúc này tóc bạc phơ, không ít hơn “già làng” một sợi. Nhưng nàng vẫn đợi chờ anh trong cái lều thơm phưng phức đó, không bao giờ quên anh, không bao giờ yêu người khác. Nàng nói với già làng rằng chưa từng có ai hợp ư và vừa với bụng nàng hơn “chàng Mỹ đa t́nh” của nàng.



Paul lại khoái chí rộ lên cười c̣n Joseph cảm thấy bứt rứt dưới tia mắt của những người chung quanh, không cười theo. Việc nh́n thấy mặt Paul lần đầu tiên từ khi rời trại săn trong rừng làm Joseph bỗng, cực chẳng đă, nhớ lại buổi sáng đầy tủi thân sau đêm mưa băo. Đột nhiên, mặt nóng bừng bối rối, Joseph ảm đạm tự hỏi không biết Paul có ư niệm mơ hồ nào về những ǵ xảy ra trong đêm ấy không.



Paul tiếp tục nói, cũng với cái giọng giả vờ thầm th́ nhưng cố ư cho người ngoài nghe rơ từng tiếng. Và anh cười tươi rói vỗ vỗ tờ báo trên bàn:


- Tôi cho rằng ba cái thứ tào lao nói trong tờ báo này về việc anh sắp đi Hà Nội để nghiên cứu lịch sử, chỉ là cái vỏ che đậy thôi. Anh không thể thừa nhận trắng trợn với báo chí rằng anh vượt Thái b́nh dương tới đây cốt chỉ để thăm cô bạn Mọi năm xưa.



Nét hồn nhiên sung sướng chào đón cùng với vẻ tươi cười rạng rỡ không tan biến chút nào trên khuôn mặt đôn hậu và rám nắng của Paul lập tức xua tan những nghi ngại trong ḷng Joseph. Anh nói, cố ư giữ bộ mặt rất nghiêm trang:


- Tôi biết anh vẫn ghen tức hơn bao giờ hết dù đă mười một năm rồi, phải không Paul?



Nụ cười của người Pháp thoáng chút mờ đi:


- Ghen? Anh có ư nói ǵ vậy Joseph?


- Rằng tôi đă xớt mất cô nàng xinh đẹp nhất!



Cả hai cùng rộ lên cười ngặt nghẽo. Paul vừa nồng nhiệt vỗ vai Joseph vừa thả người xuống chiếc ghế bên cạnh. Ngay lúc ấy người hầu bàn bước tới với ly bia đạm bạc trước đó Joseph đă gọi. Thấy vậy Paul xua tay, mặt tỏ vẻ gớm ghiếc và chế giễu. Anh lớn tiếng ra lệnh bằng tiếng Pháp:


- “Xin anh bồi vui ḷng“ mang ra cho chúng tôi một chai sâm-banh! Chúng tôi uống mừng một biến cố lịch sử - chuyến trở lại Sài G̣n của một trong những người t́nh vĩ đại nhất thế giới!



Trong lúc Paul và Joseph cười rũ rượi nhắc lại và thêm mắm giặm muối cho chuyến cả hai ghé bản Mọi, người hầu bàn trở ra với chai sâm-banh Perrier-Jouet và hai chiếc ly. Cả hai nh́n nhau, cùng ngạc nhiên và cùng sung sướng chẳng kém ǵ nhau khi thấy thời gian trôi qua không làm suy xuyển chút nào t́nh bạn của họ dù sợi dây bằng hữu ấy chỉ được đan kết trong đôi ba ngày niên thiếu và suốt hơn mười năm nay chẳng c̣n được người nào nhắc nhở. Ngồi bên nhau khi đă quá đôi mươi, Joseph và Paul vẫn cảm thấy khoan khoái dễ chịu không thua ǵ thuở mới mười mấy tuổi.



Dần dần những bỡn cợt bông đùa qua đi, nhường chỗ cho lời thăm hỏi đứng đắn về những năm cả hai không gặp nhau. Paul vừa rót rượu vào ly lần thứ hai vừa nhoẻn miệng cười tŕu mến rồi nói với Joseph:


- Joseph này, anh biết không, vẻ ngoài của anh thay đổi quá nhiều. So với lúc anh c̣n là một cậu bé, tôi thấy lúc này anh giống hệt ông anh Chuck của anh - nhưng anh đẹp trai hơn. Vừa thấy anh tôi cứ tưởng...



Paul chợt ngừng nói, chờ cho sâm-banh đầy ly rồi liếc thật nhanh người bạn Mỹ:


- Tôi xin lỗi - ḿnh đă không gặp nhau kể từ tai nạn khủng khiếp ấy. Anh rời cuộc săn trước ngày xảy ra chuyện đó, đúng không?



Joseph lẹ làng gật đầu và xua tay:


- Không sao đâu Paul. Chuyện xảy ra đó ai cũng biết hết.



Rồi đang nâng ly rượu đầy ắp lên môi anh bỗng ngừng lại:


- Nhưng thú thật, việc trở lại nơi này làm tôi nghĩ tới anh Chuck nhiều hơn những năm vừa qua. Hẳn anh hoàn toàn hiểu rơ anh ấy trong mấy tuần lễ hai người đi săn với nhau, phải không?



Trong một thoáng trầm ngâm nh́n xuống đám đông đang đi dạo buổi tối dưới những hàng me trên vĩa hè đại lộ Catinat sát thềm khách sạn, Paul trả lời:


- Vâng, đúng vậy. Anh của anh là một thanh niên rất gan dạ và bắn giỏi. Cũng là một người bạn đồng hành cực kỳ hoà nhă. Cái chết của anh ấy làm ba tôi và tôi bị sốc rất nặng.



Lần đầu tiên Paul và Joseph im lặng. Trong một hai phút cả hai ngồi yên nhắp rượu, không ai nói với ai lời nào. Sau cùng Paul nói tiếp:


- Những buổi tối ở trại săn chúng tôi chuyện tṛ rất nhiều. Có một đêm Chuck nói tới một điều mà về sau nó bám riết trí óc tôi rất lâu.


- Điều ǵ vậy?


- Chuck nói cha anh kỳ vọng rằng anh ấy sẽ là một chính khách và c̣n có cao vọng rằng một ngày nào đó anh ấy có thể trở thành tổng thống Mỹ. Khi nói với tôi như thế, anh ấy nhe răng cười và thú thật rằng ḿnh không quan tâm chút nào tới chính trị - tôi nghĩ có lẽ chính v́ thế tôi nhớ măi điều đó. Những ǵ xảy tới vào mấy ngày sau dường như làm cho điều đó hoá ra buồn bă vô cùng.



Thoáng chút ngần ngại, Paul nh́n thẳng vào mặt Joseph ở bên kia bàn:


- Ba anh có chuyền kỳ vọng đó qua cho anh không? Anh có sắp đi vào chính trường không?


- Tôi nghĩ là không.



Joseph trả lời thật lẹ, gần như trước khi người bạn hỏi xong câu. Anh từng mơ hồ nhận ra cái chết của Chuck khiến anh sinh ḷng thèm muốn được sáng chói trong mắt cha để điền vào chỗ của anh ḿnh và việc nhận ra ấy làm anh bối rối.



Tại đại học Harvard, Joseph lao vào hoạt động thể thao để cố chứng tỏ thể chất ḿnh kiên cường, đó là cái anh thường nghi ngờ sẽ không bao giờ tự nó bộc lộ dưới cái bóng tài giỏi về thể thao và điền kinh của Chuck. Trong những năm học ở đó, anh trở thành cầu thủ ngoại hạng của đội bóng bầu dục và là một tay bơi lội hàng đầu, tuyển thủ quần vợt hàng đầu. Khi cha anh rũ anh tham gia những chuyến đi săn thường lệ, Joseph kinh ngạc thấy ḿnh có thể nổ súng vào con mồi với ḷng không chút băn khoăn. Nhưng kết quả những việc đó không làm thay đổi nhiều lắm bản chất mối quan hệ giữa hai cha con, và v́ một lư do nào đó, anh không ngạc nhiên, cũng không đặc biệt thất vọng về mức độ quan hệ ấy. Cuối cùng anh nhận thấy thật vô ích khi nỗ lực tái tạo một h́nh ảnh phản chiếu các tài nghệ của Chuck - nhưng thật trái ngược, sự nhận biết ấy không cất bỏ hoàn toàn t́nh trạng chính anh tự ḿnh thúc ép ḿnh, một cách phi lư, phải tiếp tục những nỗ lực như thế.



Cuối cùng, Joseph nói với Paul bằng giọng nhẹ nhàng, cố che giấu cảm xúc của ḿnh về vấn đề đó:


- Cũng y như anh Chuck, tôi nghĩ ḿnh không có phẩm chất và khả năng thích hợp với chính trị. Và dù sao chú em của tôi có vẻ sẽ là người được cha tôi yêu thương hơn bất cứ ai trong nhà.



Cặp lông mày Paul nhíu lại thành một vệt nhăn ḍ hỏi:


- Anh có em trai sao Joseph?



Joseph nói thật nhanh, mắt nh́n xuống ly rượu:


- Tên nó là Guy, đứa không ngờ mà có. Lúc này nó lên mười. Nó sinh vào cuối cái năm anh Chuck qua đời. Tôi nghĩ nó giúp rất nhiều cho cha tôi trong thời gian ông cố gắng vượt qua tấn thảm kịch; nó làm cho cha tôi bớt phần nào suy nghĩ ủ ê.



Nói xong, anh vội vàng liếc vẻ mặt của viên sĩ quan Pháp nhưng không thấy có dấu hiệu nào chứng tỏ Paul đọc được ư nghĩa đặc biệt trong thông tin ấy.


- Và ông ấy có hoàn toàn b́nh phục không? - ư tôi muốn nói tới cha anh đấy.



Joseph gật đầu, mặt vẫn không ngước lên:


- Ông ấy mất một cánh tay, tôi tưởng anh biết rồi. Nhưng cha tôi là người rất quyết tâm - tôi giả dụ anh có thể nói là thậm chí ngoan cố nữa. Ông vẫn đi săn bằng một tay c̣n mạnh - và không tệ chút nào. Dĩ nhiên dùng súng trường loại rất nhẹ và không bao giờ c̣n bắn hạ con ǵ lớn hơn con nai. Tôi nghĩ, ban đầu cha tôi cảm thấy phiền muộn rằng ông đă chẳng làm được ǵ hơn nữa để cứu Chuck. Rồi th́ dường như cái làm cho ông bực bội là Chuck đă không hành động đúng với tính cách của anh ấy. Anh tôi là một người gan dạ, đúng như anh nói, nhưng anh ấy không bao giờ liều lĩnh dại dột. Suốt một thời gian dài, cha tôi gần như tự trách ḿnh rằng chính ông là người có lỗi v́ đă không phản ứng nhanh nhạy hơn khi Chuck cứ nhất quyết đuổi theo con min bị thương ấy vào trong lùm tre gai, trái với mệnh lệnh của ông.



Paul nhớm người lên trên ghế, hít một hơi thật lẹ như thể sắp nói điều ǵ đó nhưng rồi đổi ư. Thay vào đó, anh cầm ly rượu đưa lên miệng. Đang vừa nói vừa bứt rứt bóp bóp chiếc ly của ḿnh, Joseph nh́n lên và kịp thấy vẻ tần ngần trên mặt viên sĩ quan Pháp. Giữa cả hai thoáng chút lấn cấn rồi Joseph hỏi để phá tan bầu khí im lặng:


- C̣n anh th́ sao Paul? Kể từ lần cuối ḿnh gặp nhau, anh đă trải qua những ǵ?



Người Pháp nhún vai và nhăn mặt để che lấp t́nh trạng không thoải mái của ḿnh:


- Nhiều và ít - cuộc sống khá buồn nản của một quân nhân ở thuộc địa. Chẳng bao lâu sau khi anh đi, tôi rời Sài G̣n trở về Pháp - vào St. Cyr. Sau ba năm ở đó, đơn vị bổ nhiệm đầu tiên của tôi là về lại đây, ở Bắc kỳ, tại một cứ điểm có tên là Yên Bái. Tới năm ba mươi hai tôi đi châu Phi cho một nhiệm kỳ ba năm rồi quay lại Sài G̣n theo đơn xin của ḿnh - chỉ mới sáu tháng nay thôi.



Joseph háo hức hỏi và nhíu lông mày cố nhớ:


- Vậy ra anh ở đây vào lúc xảy ra những biến động hồi năm ba mươi và ba mươi mốt? Báo chí bên chúng tôi có một số bài tường thuật về các cuộc nổi dậy đó. Phải chăng đă có một loại khởi nghĩa nào đó ở Yên Bái?



Paul chầm chậm gật đầu nhưng không đưa ra chi tiết. Joseph nói tiếp:


- Trên chuyến tàu tới đây tôi có hỏi một người đồng hương về chuyện đó. Ông ta nói đó chỉ là một cơn băo trong tách trà: “Vài gă bôn-sê-vich của Joseph Stalin tính chuyện thừa cơ lợi dụng đôi ba vụ mất mùa.” Tôi cho rằng đó chỉ là cách diễn tả của ông ta thôi. Ông ta c̣n nói họ cố lén lút đưa một ít công thức cách mạng rỗng tuếch cho những người bản xứ nhẹ dạ nhưng không tiến xa lắm. Nói như vậy có đúng không?



Lắc đầu và nhớm hẳn người tới trước, Paul hạ thấp giọng để không ai có thể nghe lén:


- Joseph nàyï, nó c̣n tệ hại hơn bất cứ ai ở thế giới bên ngoài có thể biết tới. Máu đổ rất nhiều và không cần thiết. Đối với tôi, nó xuất hiện hoàn toàn như một cú sốc cực kỳ. Tại Yên Bái, cuộc nổi dậy gần như sắp thành công. Những kẻ nổi dậy bằm nát năm sáu sĩ quan đồng đội của tôi. Và lần đầu tiên tôi tận mắt thấy chính xác rằng trong nhiều người An Nam ḷng căm thù người Pháp quả thật sâu xa, không bờ bến.



Joseph khắc khoải hỏi:


- Anh có dính líu trực tiếp không Paul?



Paul gật đầu:


- Chẳng may là có Joseph ạ.



Paul lại đưa mắt xem xét kỹ lưỡng vĩa hè Catinat đông đúc sát mé dưới tầng trệt khách sạn. Anh nói và bất giác xoa xoa vai bên mặt làm Joseph nhớ lại cử chỉ cấn cái của Paul anh từng nhận ra mỗi khi Paul nhấc ly rượu lên.


- Tôi nghĩ ḿnh may mắn thoát chết. Tôi lănh một vết thương trên vai nay thỉnh thoảng c̣n bị nó hành. Nhưng có lẽ cái tệ hại nhất là thấy những người An Nam ḿnh từng đối xử như bạn thiết nay bỗng chốc trở thành kẻ căm thù ḿnh dữ dội.


- Anh có ư nói tới lính bản xứ của anh?


- Không - c̣n tệ hại hơn nữa.



Ngừng một chút Paul quay lại nh́n Joseph:


- Anh c̣n nhớ Ngô văn Lộc, người “bồi” trại săn của chúng ta không?



Joseph gật đầu.


- Chính việc đó. Lộc và hai con trai của anh ta xuất hiện trong số những người nổi dậy ấy. Cả ba vung gươm và mác lên, thét lớn đ̣i máu của tôi, cùng với những người khác...



Joseph giật ḿnh không tin nổi:


- Anh có ư nói hai đứa nhỏ đùa giỡn với chúng ta nơi trại săn?



Paul gật đầu cay đắng:


- Té ra suốt trong những năm đó Lộc cùng vợ anh ta hoạt động cho phong trào chống đối này nọ. Anh biết không, vào lúc chúng tôi gặp gia đ́nh anh, ba tôi thỉnh thoảng có phụ trách một ít công tác mật cho Liêm Phóng, c̣n vợ chồng Lộc được gài vào nằm vùng để theo dơi chúng tôi. Trong thời gian xảy ra các biến động ấy, ba tôi đang là viên chức làm việc thường trực cho Nha Liêm Phóng. Hiện ông là phó tổng chỉ huy cơ quan đó, kiêm nhiệm phân sở Trung kỳ tại Huế.


- Rồi sau đó Lộc và hai con trai của anh ta ra sao?



Trong một thoáng Paul nh́n Joseph với vẻ mặt đau đớn:


- Học, chú bé nhỏ nhất, bị bắt và sau đó bị hành quyết công khai bằng máy chém cùng với mười hai người nổi dậy khác.



Nghe đến đây, Joseph kinh hoàng, chầm chậm lúc lắc đầu:


- Thật không tin nổi Paul ạ.



Người bạn Pháp xoa một bên hàm, cử chỉ tỏ vẻ khích động:


- Chuyện không chỉ có vậy. Nói ra nghe buồn lắm. Trước đó, vào một ngày nọ, ba tôi để ư thấy trên bàn viết mất một số giấy tờ, rồi ông t́m thấy chúng trong nhà của người giúp việc. Lúc ấy Lộc đi xa v́ vậy vợ của anh ta bị hiến binh bắt giam để điều tra.



Paul ngừng lại, rơ ràng đang đau ḷng v́ những ǵ ḿnh nói, và thêm lần nữa anh đưa mắt xem xét đường phố:


- Chị ta sau đó chết trong tù... theo lời của công an là “trúng gió”. Vậy anh thấy, rốt cuộc của tất cả những cái đó... gia đ́nh Ngô văn Lộc có cơ sở để không thương mến ǵ chúng tôi.


- Rồi xảy tới chuyện ǵ nữa cho người cha với cậu con lớn ấy?


- Sau đó, Lộc gia nhập Đảng Cộng sản và cuối cùng, nghe nói anh ta bị thương trong một cuộc nổi loạn đâu đó ở mạn bắc Trung kỳ. Và rồi h́nh như anh ta lại tham gia những vụ “cộng sản dậy” ở Bắc kỳ hoặc ở lục tỉnh Nam kỳ. Nhưng tôi biết chắc rằng khoảng bốn năm trước đây, anh ta bị bắt và bị cho lên tàu chở ra làm tù khổ sai ở đảo Côn Lôn cùng với cả ngàn đảng viên cộng sản khác. Ngoài ra, tôi không biết chuyện ǵ xảy tới cho Đồng.



Người bạn Mỹ trầm giọng hỏi:


- Có phải những việc ấy để lại trong anh cảm giác cay đắng về người An Nam?



Viên sĩ quan Pháp chầm chậm nhắp rượu. Và anh ngă lưng ra ghế với tia nh́n xa xăm trong mắt:


- Cũng khá lạ lùng là nó tác động ngược lại. Cuối năm ba mươi mốt, sau khi mọi biến động ấy lắng xuống, tôi muốn rời nơi đây đi thật xa - nhưng tại châu Phi tôi lại thấy ḿnh thường xuyên nghĩ tới người An Nam hơn là nghĩ tới người châu Phi.



Mặt Paul hằn nét suy tư trong khi anh t́m cách diễn đạt những cảm xúc phức tạp có lẽ chính anh cũng không thể hiểu cặn kẽ:


- Tôi khám phá ra rằng xứ sở này và dân tộc này dù sao cũng đă lậm vào máu của tôi. Tôi quả thật không thể giải thích nổi điều đó. Dù đó là cái ǵ đi nữa, nó cũng khiến tôi xin thượng cấp được thuyên chuyển về lại đây.



Anh nh́n Joseph, mỉm cười rầu rĩ:


- Đối với anh th́ có vẻ điên rồ khi một sĩ quan quân đội lại suy nghĩ theo cách đó, nhưng giả dụ tôi cảm thấy nước Pháp, bằng nhiều cách thức khác nhau, đă làm nhiều điều sai trái ở đây - người ta đă có thể và nên ứng xử tốt hơn. Dĩ nhiên, đang có nhiều cải tiến. Liên minh Mặt Trận B́nh Dân ở Paris đă hợp pháp hoá Đảng Cộng Sản ở đây và người ta bắt đầu phóng thích các tù nhân chính trị hiện bị giam ở đảo Côn Lôn. Lúc này, thậm chí có tới bốn người cộng sản trong hội đồng thành phố Sài G̣n; không khí chính trị tương đối khoan nhượng tới độ người của Trotsky và người của Stalin hợp tác được với nhau. Đó chỉ là mới bắt đầu, tôi biết...



Paul nhún vai như thể thừa nhận rằng anh không có khả năng giải thích cảm xúc của ḿnh một cách tỉ mỉ hơn:


- Có lẽ tự tay ḿnh tôi không làm được ǵ nhiều - nhưng dù sao tôi cũng đang ở đây...



Joseph mỉm cười, cảm thấy ấm ḷng v́ sự chân thành và thẳng thắn của người sĩ quan ấy:


- Paul ạ, tôi nghĩ là tôi hiểu. Lúc này tôi cũng đang ở đây. Tôi có thể thấy sâu trong tiềm thức ḿnh rằng tôi lúc nào cũng muốn trở lại đây. Dù không dính líu theo cách hiện nay của anh, tôi vẫn cảm thấy xứ sở này và dân tộc này có điều ǵ đó làm ḿnh say mê.



Nghe vậy, Paul nhoẻn miệng cười trở lại và nói:


- Th́ ra tôi nói giỡn lại trúng y chóc hơn tôi tưởng. Này, nói tóm lại, có phải thật ra anh bị lôi trở lại đây là v́ nhớ tới bộ ngực trần của mấy nàng Mọi đó? Hay là anh đă lập gia đ́nh?



Joseph lắc đầu, tới lượt anh nhoẻn miệng cười:


- Chưa. Tôi chưa có vợ.


- Sao lại chưa? Một chàng tuổi trẻ độc thân đẹp trai con nhà giàu như anh đương nhiên bị các người đẹp Mỹ quốc săn đuổi ráo riết, đúng không?



Joseph hơi ngượng v́ câu hỏi thẳng thừng đó. Thoáng chút lưỡng lự, anh cố làm cho rơ tâm trạng của ḿnh nhưng không nổi:


- Nói thật Paul ạ, tôi thấy hầu hết phụ nữ đều không thật ḷng. Tôi nghĩ ḿnh chưa gặp được thiếu nữ nào ḿnh hoàn toàn tin tưởng để có thể kết hôn.



Viên sĩ quan Pháp lại vừa căn vặn vừa cười:


- A, té ra bên Mỹ, phụ nữ bạc bẽo cũng là một chủng loại thông thường, phải không?


- Nó không là một hiện tượng toàn cầu sao?



Paul lại quay nh́n xuống đường phố, ngắm hai thiếu nữ An Nam mảnh mai đang bước đi tha thướt trong chiếc áo dài cao cổ nhẹ như tơ:


- Có thể... có thể... cho dù các tiểu thư Sài G̣n con nhà gia giáo dĩ nhiên vẫn thích mang trinh tiết của ḿnh bước tới bàn thờ.



Joseph nh́n theo mắt Paul, mỉm cười:


- Các chú rể ở đây có c̣n chơi cái tṛ trải vuông lụa trắng trong đêm động pḥng không đấy?



Người Pháp cười lớn:


- A, Joseph, trí nhớ của anh tuyệt vời. Anh nhớ không sót một tí ǵ tôi đă dạy cho anh. Vâng, đúng đấy, người An Nam vẫn đánh giá rất cao trinh tiết và thủy chung.



Paul quay bộ mặt tinh quái lại ngó người bạn Mỹ:


- Có lẽ tôi nên thú nhận sự thật, tuyên bố chính xác và thành thật khai báo với anh rằng lư do duy nhất khiến tôi quay lại nhận nhiệm sở ở xứ này là để ngắm những tạo vật bằng vàng và thú vị ấy ngày nào cũng lướt bềnh bồng qua mắt tôi trong gió Sài G̣n phiêu diêu thổi.



Người Mỹ trả lời hóm hỉnh:


- Căn cứ vào những ǵ chính anh đă kể về anh khi tôi ghé lại đây lần trước, tôi không ngạc nhiên chút nào về chuyện đó.



Háo hức rướn người qua bàn vỗ vỗ cánh tay Joseph, viên đại úy Pháp nói:


- Tôi chỉ nói giỡn một nửa thôi Joseph. Hăy nhận lời khuyên này của một người bạn già hơn anh ba tuổi đời - nếu anh có thể mang được một trong những người đẹp An Nam kia về làm phu nhân th́ tốt hơn rất nhiều so với hết thảy mọi đại sự anh đang dự tính làm ở đây. Bản thân tôi suy nghĩ chuyện đó hoàn toàn nghiêm túc.



Paul lại hoác miệng ra cười trong khi dốc hết phần sâm-banh c̣n lại trong chai vô hai chiếc ly vừa cạn:


- Tôi sẽ để cho anh tự ḿnh nhận ra điều tôi có ư nói, nếu anh muốn. Chiều mai, tại Câu lạc bộ Thể thao, người ta đấu trận chung kết giải vô địch quần vợt hằng năm của chúng tôi. Lúc này nó là cuộc thi đấu hỗn hợp, đúng với tinh thần thời đại. Và lần đầu tiên có một tay vợt An Nam vô chung kết đơn nam. Anh ta có một cô em gái đẹp tuyệt trần và tôi được hân hạnh tháp tùng cô ấy xem trận đấu. Tại sao anh không cùng đi với tôi? Anh sẽ thấy cách chúng tôi thực thi công cuộc “sứ mạng khai hoá” của ḿnh bằng tác phong hiện đại - cùng lúc ấy, anh sẽ được gặp một trong các thiếu nữ đáng yêu nhất Sài G̣n.



Joseph đồng ư, cười và đưa ly lên môi:


- Được thôi. Chúng ta uống mừng chuyện đó.



Khi cả hai cạn xong ly, Paul mỉm cười đưa một ngón tay lên cảnh cáo:


- Nhưng lần này, tôi nhất định rằng “Người Mỹ Đa T́nh” cần giữ ư tứ hơn. Tôi biết t́nh bạn của chúng ta v́ cái khởi đầu độc đáo của nó - tuy vậy cách riêng dịp này, chớ có tính chuyện chia chung cái ngăn chuồng của tôi.



Nói xong anh đứng dậy và cười vang, vỗ vai Joseph:


- Nghe rơ chưa?


- Nghe rơ!



Joseph đáp lại, nồng nhiệt bắt tay bạn. Rồi anh đứng nh́n theo Paul với cảm giác tŕu mến chân thật khi vóc dáng nhà binh vai ngang ấy khuất dần trong đám đông đang dạo tới dạo lui tấp nập đường Catinat vào buổi tối. Thân h́nh thẳng đứng của người sĩ quan Pháp khiến Joseph nhận ra Paul càng ngày càng giống hệt cha.



Bỗng dưng Joseph lại thấy thêm lần nữa trong tâm trí ḿnh h́nh dáng anh hùng kỳ bí và im lặng đầy kính sợ thuở nào, trước đôi mắt của cậu bé Joseph mười lăm tuổi, đang lắc lư cứng cỏi và thẳng lưng trên yên dẫn đầu đoàn kỵ mă trong chuyến đi đầu tiên và ngất ngây của họ vào rừng xanh. Kư ức ấy lại nhen nhúm một chuỗi hồi tưởng khác, cuối cùng dẫn trở lại những khoảnh khắc kinh hoàng bên ngoài túp lều của Devraux, trong cơn mưa băo.



Sau khi không c̣n đám đông đi lại tấp nập trên đại lộ bên ngoài cửa sổ, Joseph nằm thao thức rất lâu trong pḥng khách sạn Continental, vật vă thêm lần nữa với những âm vang xao xuyến và lẹ làng của quá khứ.

 

 

 

tiểu thuyết lịch sử (T)


Trăng Huyết Tập II - Trường thiên tiểu thuyết lịch sử / Nguyễn Ước & Anthony Grey

B́a Trước

 

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 1

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 2

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 3

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 4

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 5

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 6

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 7

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 8

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 9

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 10

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 11

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 12

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 13

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 14

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 15

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 16

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 17

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 18

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 19

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 20

Phần Thứ Ba, Sông Hương 1936, Chương 21