• tiểu thuyết lịch sử | All, S, T,



Nguyễn Mộng Giác SÔNG CÔN MÙA LŨ



SÔNG CÔN MÙA LŨ: PHẦN I: VỀ AN THÁI
CHƯƠNG 7
Nguyễn Mộng Giác



Trong khi Lữ dùng những buổi chiều năm Tuất để mơ tưởng gây dựng một ‘’Trang-trại-y-như-của-chú-Thung’’ trên mấy đám đất cao quanh miễu, th́ Huệ cũng dùng những buổi lao động ấy để quấy rầy Ông Giáo.


Thực vậy, chưa bao giờ Ông Giáo bị quấy rầy nhiều như thế này. Ông đă ngồi dạy học ở nhiều nơi, học tṛ thuộc nhiều thành phần khác nhau. Bất cứ ở đâu, thời nào ông cũng được lắng nghe một cách trân trọng, gần như thành kính. Vào những lúc chủ nhà v́ keo kiệt đối xử với ông tệ bạc quá, ông có thể chua chát nghĩ chữ nghĩa chẳng qua là cái cần câu cơm của anh nhà nho lỡ vận. Ông chán nghiên mực khô, đầu bút xơ, nhưng khi ngồi trước đám học tṛ trân trọng nắn nót từng nét ngang nét sổ, ê a đọc lời thánh hiền, tự nhiên ông trở nên tự tin. Đời sống như được nâng lên bậc cao hơn những nhu cầu tầm thường của ăn uống, ngủ nghê, bài tiết. Cả đến nỗi gian khổ mà bất đắc dĩ ông phải chịu đựng, tiếng bấc tiếng ch́ của những bà chủ nhà so đo từng đồng tiền kẽm, cũng trở nên siêu nhiên. Cái ṿng hoa dối trá đó dù sao cũng xông chút hương giả lên nhiều nỗi hẩm hiu của đời ông. Ông cắn răng chịu đựng và tiếp tục bước.


Chưa bao giờ ông ngờ đến lúc gặp được một nơi dạy học lư tưởng, lại là lúc ông không có quyền giả trá nữa. Ông phải nh́n thẳng, trả lời không quanh co những vấn nạn mà tầm quan trọng có thể làm lung lay chân đế của cả đời ông. Cái chân đế đó, ngay từ trước, không lấy ǵ làm vững. Thời c̣n là môn khách của Ư Đức Hầu, thấy những kế sách của ḿnh bị vất bỏ không thương xót, niềm tin của ông vào đạo nho đă bắt đầu lung lay. Ư Đức Hầu bị giết, gia đ́nh ông chạy trốn ở chốn thâm sơn cùng cốc này, ông th́ ngày ngày giao thiệp với những người mộc mạc và cần cù, chuộng một thế vơ hiểm để pḥng thân hơn là một câu trong Khổng Tử Gia Ngữ. Đă đến lúc dẹp quách mớ sách vở vô dụng kia đi. Chỉ cần một mồi lửa bếp, là xong hết. Trong lúc ông c̣n do dự, vu vơ, Biện Nhạc lại xin ông mở trường dạy học. Th́ dạy. Vả lại không ai đ̣i hỏi ông phải sản xuất ra những ông tú, ông cử, nên thích ǵ, ông dạy nấy. Những Thầy Đồ cùng thế hệ với ông không thể mơ ước chỗ dạy học nào thoải mái hơn.


Chính vào lúc đó, chân đế của đời ông gần như sắp rạn nứt, sụp đổ. Không phải trong nhà học, mà sụp đổ trong những buổi chiều làm ruộng như hôm nay.


Thông thường, ít có anh học tṛ nào thích làm việc bên cạnh Thầy. Khép nép, làm ra dáng cần mẫn, ráng tỏ ra đứng đắn trong từng lời nói, cử chỉ, đóng bao nhiêu cái tṛ kịch ấy trong buổi sáng ở nhà học, đủ rồi. Buổi chiều mênh mang trên cánh đồng xanh, ao ước của mọi người là được thở tự do, cười nói thoải mái. Cho nên khi nào Ông Giáo gọi đến, sai bảo việc ǵ, học tṛ mới đến gần. Đến anh trưởng tràng đạo mạo mà cũng thích t́m một chỗ khuất mắt thầy, ngồi nh́n lên những g̣ đất, luống cày, gốc mít cỗi, bụi xương rồng, trên cách đồng hoang dại mường tượng ra cảnh vườn tược xinh đẹp, um tùm, lẫm lúa cao ráo, đụn rơm chất ngất, tá điền đông đúc... Chỉ trừ một anh học tṛ đặc biệt là Huệ.


Từ hôm đọc bài Tựa Truyện Du Hiệp, h́nh như giữa Ông Giáo và Huệ có một thứ ràng buộc vô h́nh khiến Ông Giáo cảm thấy vướng víu, muốn tháo gỡ mà không được, c̣n Huệ th́ tự dấn sâu vào những mắc mứu, rắc rối với niềm say sưa mạo hiểm và khoái cảm phạm thượng. Huệ t́m chỗ làm việc cạnh Thầy, nhanh nhẹn làm giúp Ông Giáo những phần việc nặng nhọc. Ông Giáo khen:


- Anh khỏe lắm. Lại không quá cẩn thận như anh Lữ. Vậy dễ trở thành một người hiệp.


Huệ ngừng tay lại, ngửng lên nh́n Thầy. Mồ hôi ướt cả trán Huệ. Cậu đưa lưng bàn tay phải gạt mớ tóc quăn đang phủ mất một bên mắt. Cả đôi mắt long lanh tươi vui. Huệ nháy mắt vài lần, cục xương yết hầu di động. Ông Giáo biết người học tṛ sắp hỏi điều ǵ, chuẩn bị lắng nghe, v́ chiều nay gió thổi ào ào từng cơn lấp mất mọi tiếng nói. Nhưng Huệ không thu được đầy đủ can đảm, sau một lúc bối rối, lại cầm cán rựa chặt nốt gốc mù u xù x́. Ông Giáo tiếp tục công việc của ḿnh, Huệ làm xong công việc, đứng nghỉ lấy hơi phía sau lưng Thầy. Ông Giáo nghe Huệ hỏi trong nhịp thở hổn hển:


- Thưa Thầy.


Ông Giáo dừng việc, quay lại nh́n người học tṛ. Áo chàm của Huệ đẫm mồ hôi, vạt trước dán vào khuôn ngực nở. Thấy Huệ mệt nhọc v́ ḿnh, ông xúc động. Giọng ông thân mật, tŕu mến:


- Anh hỏi ǵ hở Huệ?


Huệ do dự một lúc rồi đánh bạo nói nhanh:


- Con đọc măi bài học hôm qua. Có vài điều con chưa hiểu hết. Như. . . thế nào mới là người hiệp?


Ông Giáo đáp:


- Phải khỏe để làm người không biết sợ. Phải không quá cẩn thận để dám làm. Phải rộng răi để giúp người mà không so đo hơn thiệt. Nếu cần dám quên ḿnh mà giúp người.


- Quên cả sự chết xông vào cứu một thằng ăn cướp ngay ban ngày, giữa chợ, có phải là hiệp không thưa Thầy?


Ông Giáo khó chịu v́ cái giọng chất vấn bất ngờ của Huệ, trả lời cộc lốc:


- Không.


- Nhảy xuống sông cứu một người sắp chết đuối dù không biết bơi, đă được gọi là hiệp chưa?


Ông Giáo càng khó chịu hơn, chau mày đăm đăm nh́n Huệ. Ông Thầy làm mặt nghiêm, Huệ không dám cười nữa. Cậu đứng ngay ngắn trở lại, nhưng vẫn nh́n thẳng về phía Thầy, chờ câu trả lời. Ông Giáo không có cách nào khác, đáp:


- Chưa thể gọi là hiệp. Thêm một người chết nữa, phí đi.


Huệ cười tiếng nhỏ, thưa với Ông Giáo:


- Vậy là con biết phải làm ǵ rồi. Gặp một tên thu thuế hống hách và tham lam đang bị bọn cướp đường hành hung, ta không nên can thiệp vào làm ǵ. Để bọn cướp thanh toán với nhau. Thấy một anh học tṛ thức khuya, dậy sớm, học thuộc làu làu thi phú để thi đậu ra làm kư phủ, duyện lại, ḿnh phải cứu anh ta, không th́ anh ta chết đuối mất.


Ông Giáo sững sờ, không ngờ bị cậu học tṛ nhỏ tuổi dẫn đến chỗ lắt léo đó của luận lư. Ông muốn khuyên Huệ vài điều, nhưng không t́m ra được lời. Cuối cùng ông phải cầu viện đến tuổi tác:


- Chuyện đời có nhiều điều phức tạp. Anh suy ra như vậy có khi đúng, có khi sai. Anh c̣n trẻ, chưa hiểu hết mọi sự ở đời đâu. Làm việc hiệp nghĩa chỉ trong một khoảnh khắc, suy tính do dự th́ không làm được. Nhưng xem xét, quyết đoán việc ấy có đúng là ‘’hiệp nghĩa’’ hay không, không thể vồ vập. Phải so đo, cẩn trọng. Ngày xưa v́ phẫn đời mà Ông Tử Trường chép Truyện Du Hiệp. Anh c̣n trẻ quá. Tôi quên mất điều đó. Làm được một Du Hiệp đă khó. Định được đâu là người hiệp, càng khó hơn. Thôi, ta bỏ qua chuyện rắc rối đó đi. Ḱa sao cánh mũi anh sưng lên như vậy?


Huệ ngượng ngịu đưa tay lên sờ mũi ḿnh, đáp lời:


- Dạ, chỉ là cái mụn.


Ông Giáo cố lấy giọng thân mật khuyên:


- Phải cẩn thận. Đưa tay dơ rờ lên hoài, nó làm độc. Có người bị phong đ̣n gánh, chết co quắp đau đớn, chỉ v́ cái mụn nhỏ.


Huệ rụt tay về, hai bàn tay bối rối thêm, không biết giấu vào đâu. Ông Giáo không nhận ra được cậu học tṛ vừa chất vấn ḿnh lúc năy. Huệ than:


- Ở cái tuổi con, đứa nào cũng bị cái nạn này. Cái mụn này vừa lặn, hai ba cái khác đă nổi cộm lên. Khó chịu lắm. Không hiểu sao con lại bị nhiều hơn anh Chinh và thằng Th́n.


* * *


Một buổi chiều khác, Huệ lại đột ngột hỏi Thầy:


- Cái câu: ‘’Ăn trộm lưỡi câu th́ chết chém. Ăn trộm nước người th́ phong hầu. Cửa nhà hầu nhân nghĩa thiếu ǵ đâu. ’’, con đoán h́nh như không phải lời Ông Thái Sử. Thưa Thầy có đúng thế không?


Ông Giáo giật ḿnh quay nh́n Huệ, xua tay gạt đi:


- Anh đừng thắc mắc bài đó nữa, không đáng ǵ đâu.


Huệ nhất định tiến tới, nói tiếp:


- Nếu chính là lời Ông Thái Sử, th́ đă không có câu: ‘’Thiệt không phải là nói ngoa’’ ngay phía dưới.


Ông Giáo đành phải giải thích:


- Ông Tử Trường dẫn lời của Thầy Trang trong sách Nam Hoa. Anh đừng hỏi thêm Thầy Trang là ai và sách Nam Hoa nói ǵ. Chỉ nên biết cả bài Tựa Truyện Du Hiệp chỉ là lời nói phẫn. Lúc đó Ông Thái Sử không đủ b́nh tĩnh và sáng suốt nên bị người đời sau chê không ít.


Huệ lại hỏi:


- Bọn dám chê Ông Thái Sử thuộc hạng nào, thưa Thầy? Hạng trộm lưỡi câu th́ chết chém cả rồi, chỉ c̣n hạng ăn trộm nước. Trộm được nước rồi th́ tự nhiên nhân nghĩa t́m tới. Hạng ăn trộm lớn đem nhân nghĩa làm cục kê, như bọn đàn bà kê thớt mà đánh vảy cá. Nghĩ tội nghiệp cho hạng cướp nhỏ, thèm ăn cá mà chỉ dám ăn trộm cái lưỡi câu.


Ông Giáo lo âu, sợ lại bị Huệ dẫn vào lối bí như hôm trước. Ông cố trấn tĩnh, thân mật vỗ vai Huệ bảo:


- Sách của Tử Trường phức tạp lắm, người chưa hiểu đời khó thấy cái tinh túy. Anh thích sử. Thôi được rồi, tháng sau tôi giảng cho anh nghe Sử Nam. Tôi c̣n giữ được Bộ Toàn Thư.


Nét mặt Huệ rạng rỡ hẳn lên. Xúc cảm hân hoan làm cho giọng nói của cậu lắp bắp khác thường. Cậu nói:


- Con chỉ mong có vậy. Nhiều lần con muốn hỏi Thầy, nhưng sợ Thầy giận. Tại sao ta không học Sử nước ḿnh mà lại tụng làu làu Bắc Sử? Tại sao không học chữ nước ḿnh? Cái loại chữ thường gọi là ‘’chữ ta’’, thưa Thầy, thật ra đâu phải là chữ ta. Đọc lên phải diễn nghĩa ta mới hiểu, đâu được rơ ràng như ḿnh nói ‘’hột muối, lá trầu, con cá, cây măng’’.


Ông Giáo vội nói lắp cho qua chuyện:


- Trước hết, hăy học chữ ta cho thông đă. Sau đó mới học cho biết thêm chữ nôm. Nhưng sách nôm không có nghĩa lư ǵ cao thâm đâu. Toàn những chuyện phong t́nh, ngâm vịnh cho qua th́ giờ đó thôi.


* * *


Lữ từ nhà Ông Giáo trở lại nhà học, nói với Biện Nhạc:


- Thầy mời anh tối nay ăn cơm.


Biện Nhạc dợm phản đối, nhưng ngưng lại kịp. Giọng của Ông Biện lấp lửng:


- Thôi cũng được. Thế nào cũng phải ăn cơm một lần, không th́ ông ấy giận. Tao định tối nay ra ngoài ông Thầy Tàu, xem tụi bây học hành ra sao?


Lữ nh́n lên phía nhà Thầy Giáo. Sau một lúc ngập ngừng, Lữ đến gần anh nói nhỏ:


- Em nghĩ... em nghĩ... hay là ta dẹp quách chuyện học chữ. Mấy tháng nay rồi, có được ǵ đâu. Mà tốn kém quá.


Biện Nhạc đang nhai trầu, vội nhả miếng trầu nhai dở ra khỏi miệng, ngạc nhiên hỏi:


- Hả? Mày nói cái ǵ?


Lữ sợ, im lặng không đáp. Một lúc lâu, anh mới nói:


- Em xuống dưới này học, anh phải mất công thuê người trông coi Trại Tây Sơn Thượng. Anh chọn đúng người đấy, nhưng người dưng nước lă làm sao lo công chuyện nhà ḿnh chu đáo được. Thằng Huệ xuống đây, anh đi nữa, Kiên Thành coi như cái nhà hoang. Bù lại, chỉ được mấy miếng vơ, và ba cái chữ nát.


Nhạc vứt miếng trầu đi, nghiêm nghị bảo Lữ:


- Mày chỉ được thấy cái tấm mẳn, mà không thấy được ḥn Một. Mày tưởng người ta để yên cho ḿnh làm ăn hay sao? Mày không được chữ nào th́ thằng Huệ cũng được vài ba chữ. Thằng Huệ không được chữ nào, th́ cái bụng chữ của Thầy c̣n đó, nhờ vả lúc nào không được. Lũ kư lục hết múa bút làm đơn thuê phá ḿnh như lâu nay. Chuyện ǵ cần tốn, phải biết tốn.


Lữ im lặng nghe lời anh, nét mặt dàu dàu không mấy thỏa măn. Nhạc chờ em đáp, nhưng không thấy Lữ nói ǵ. Ông Biện biết không thể thuyết phục nổi Lữ, v́ nếu có nói ǵ thêm, th́ điều đó đ̣i hỏi tầm nh́n c̣n xa hơn cả điều vừa nói. Cho nên Ông Biện cũng im lặng. Hai anh em cùng chờ nghe lời nhau. Sau cùng, Lữ nói:


- Mấy tháng nay em xuống dưới này, chắc lũ nó mừng lắm.


Nhạc hỏi:


- Lũ nào?


- Tụi trên Tây Sơn Thượng. Anh coi chừng, không để mắt tới, chúng nó bán luôn cả anh lúc nào không biết. Nào là pha trầu loại hai vào trầu loại nhất để tính tiền cao. Nào là đổ thừa trời mưa để ăn bớt muối. Tụi nó ranh, nhưng làm sao qua được mắt em. Chỉ cần nh́n xuống là biết trầu loại nào.


- Kiên nó được việc lắm. Được cái tính thẳng, tuy có hơi chậm chạp. Nghề dạy nghề, cần có thời gian, miễn là...


Lữ chợt nhớ điều quan trọng, vội cắt lời anh:


- Trên trại cho tụi nó ăn lúc nào?


Nhạc không hiểu ư em, hỏi lại:


- Lúc nào là thế nào?


- Em hỏi buổi sáng có cho ăn ǵ không?


- Th́ cho ăn bắp hầm trước khi đi làm việc như thường lệ. Hôm vừa rồi tao lên, có cho thêm đường làm kẹo.


Lữ đưa hai tay bứt tóc, tỏ dấu bực bội:


- Vậy là bao nhiêu công phu của em đổ sông đổ biển hết. Em đă tập cho tụi nó quen ăn hai bữa, bây giờ lại thêm bữa sáng. Của đâu chịu cho nổi.


Đến lượt Nhạc ngạc nhiên:


- Không ăn sáng sức đâu chúng nó lên rẫy, lên nguồn.


Lữ đáp:


- C̣n cho ăn sáng th́ sức đâu mà chịu nổi. Tụi nó dậy sớm hầm bắp, nấu nước pha trà, tốn dầu đèn. Ăn no xong, ngồi uống trà cả buổi chờ mặt trời lên khỏi núi mới chịu vác gánh ra đi. Chưa được nửa bước, đă lo vế nấu cơm ăn trưa. Ngủ một giấc. Chiều tối lúc nào không hay. Phía trên núi, phía dưới núi. Mặt trời mọc đó rồi lặn đó, chỉ đủ thời giờ nấu ba bữa ăn. Núi cũng lở chứ đừng nói cái trường trầu.


Nhạc đă biết tính em, nhưng đây là lần đầu tiên chính miệng Lữ nói thật và đủ những suy tính của ḿnh. Ông Biện không khỏi lo âu cho cái tính tủn mủn tội nghiệp đó. Mà nói cho vỡ lẽ cũng khó. Chỉ c̣n một cách. Ông Biện nói:


- Tụi trên trại năm cha bảy mẹ, sai được chúng nó đi không phải dễ. Chúng nó không phục, là nuôi ong tay áo. Đă có khỉ ḍm nhà rồi đó. Mày có nhớ lăo Thung không?


Nét mặt Lữ trở nên rạng rỡ. Lữ đáp nhanh:


- Anh quên sao? Hôm lễ khai tâm, chú ấy có đến đây mà.


Nhạc nói:


- Ấy, chính lăo Thung đó. Hắn ỷ có tiền, định tranh nguồn hàng của ḿnh. Chưa, dám tranh nguồn trầu. Chỉ mới ḍm ngó nguồn lợi chở muối lên rừng thôi. Tháng trước, lăo giả vờ leo đèo lên trại thăm tao, tuy biết rơ là tao đang ở Kiên Thành. Hắn hỏi thăm đủ chuyện. May hôm đó có thằng Lợi trên trường trầu, không th́ hư việc hết.


Mẫu người lư tưởng của Lữ bị phỉ báng, nên anh im lặng, băn khoăn. Chắc chắn những điều anh cả nói đều đúng. Lâu nay, do không động chạm đến quyền lợi của nhau, mối quan hệ giữa hai người thật tốt đẹp. Anh cả nổi giận, phải có lư do chính đáng. Tại sao chú Thung làm vậy? Cái nhà như thế, cái vườn như thế, ruộng đất, gia sản như thế, c̣n ước muốn ǵ nữa? Hay ǵ cuộc sống ch́m nổi, long đong, buông tuồng nơi đầu đường cuối chợ.


Lúc đó, Huệ vừa đi tắm sông về. Lữ được dịp thuận lợi, ôm mối hồ nghi ra vườn sau một ḿnh. Biện Nhạc nói đùa với Huệ:


- Mày không về sớm nh́n cái mặt thằng Lữ. Tại tao chạm đến chú Thung của nó.


Huệ hỏi anh:


- Có phải chú Thung có cái vườn sum suê đẹp đẽ không? Anh Lữ mê cái vườn, chứ không phải mê ông chủ.


Nhạc cười, giọng giễu cợt:


- Bây giờ th́ ông chủ chán cái vườn đẹp của ḿnh rồi. Hắn định đi buôn nguồn. Chưa hết. C̣n định ve văn tụi trên trại nữa. Lăo ỷ có nhiều tiền hơn ḿnh. Nhưng tao đă có cách.


Huệ chậm răi nói:


- Lũ du thủ du thực của anh, giá cao hơn một chút là mua được. Lâu nay em nghe tụi nó than phiền anh Lữ hẹp lượng, không biết bữa nay thế nào?


- Tao biết. Chuyến vừa rồi có thồ lên đầy đủ nào muối, mắm, đường, dầu ăn. Tao c̣n định mượn tiền thuế trả trước cho nậu nguồn, mua non cữ trầu sắp tới. Mua măng le cũng làm như vậy. Hoặc bao nhiêu tiền đem mua muối hết, thồ lên cho các buôn.


Huệ nói:


- Em nghĩ không nên động đến tiền thuế Vân Đồn.


Nhạc kinh ngạc hỏi:


- Sợ thâm à? Trầu và măng le ḿnh nắm trong tay, chắc chắn hơn là đống tiền kẽm. Người ta trữ lúa chứ không chịu cất tiền, ḿnh trữ trầu và măng cũng vậy. Tiền thuế c̣n lâu mới nộp phủ, ḿnh mượn đỡ trong thời gian ngắn.


Huệ thấy anh không hiểu ḿnh, vội giải thích:


- Ư em không phải vậy. Em nghĩ bọn Cai Tổng, duyện lại bóp họng dân lấy thuế nộp lên phủ, phủ chở ra Kinh. Đồng tiền thuế vấy đờm vấy máu của nhiều người, không sạch, không nên động đến.


Biết tính Huệ thẳng thắn đến độ rắn mắt, nhưng Nhạc không ngờ em nghĩ như vậy.


Ông Biện trố mắt nh́n em, cuối cùng cười to, vỗ vào vai Huệ bảo:


- Té ra mấy tháng nay mày học được bao nhiêu đó. Khá lắm. Mày hơn thằng Lữ, c̣n nhớ được vài ba chữ trong sách. Được lắm. Miễn đừng có học thuộc làu làu. Tao ghét mấy thằng nho hủ.


* * *


Sau bữa cơm, Ông Giáo mời Biện Nhạc ra sân trước ngồi uống nước trà. Bụng đầy các thức ăn béo và ngậy gia vị, cả hai đều muốn t́m một chỗ nằm nào đó để tận hưởng cảm giác no đủ, buông thả lười lĩnh. Phép cư xử buộc họ, ngồi lại, cho nên sau khi uống cạn mấy tách trà, câu chuyện qua lại vẫn cứ c̣n ngắc ngứ. Họ mon men t́m măi một đề tài chung, nhưng t́m chưa ra. Biện Nhạc ngại ngùng trước cửa ngơ của chữ nghĩa, c̣n Giáo Hiến lại vụng về trong các chuyện làm ăn. Thời tiết tốt không có ǵ đáng bàn. Sức khỏe của mọi người trong cả hai gia đ́nh, đă thăm hỏi ngay từ đầu bữa. Ông Giáo hiểu trách nhiệm ràng buộc của chủ nhà, bạo dạn hỏi thăm Ông Biện:


- Kỳ này ghé đây, chắc là ông có việc quan?


Biện Nhạc vội cải chính:


- Thưa không. Chuyện riêng thôi. Có một chuyến muối bị trạm canh giữ lại không cho đi. Tôi phải xuống nói qua một tiếng.


Giáo Hiến ngạc nhiên hỏi:


- Ḿnh nộp đủ thuế, sao lại bị giữ?


Biện Nhạc cười, vừa bao dung thông cảm cho kinh nghiệm ít ỏi của Ông Giáo về trường đời, vừa có ư mỉa mai:


- Có ngh́n cách để làm khó dễ, Thầy không biết sao. Thuế chuyên chở đường sông, thuế bến, thuế muối. Nếu mọi thứ thuế đă nộp đủ th́ hỏi thuế đinh. Thuế đinh đóng đủ, th́ bảo có đứa tố cáo ghe muối có chứa hàng quốc cấm, phải mở từng bao ra để kiểm soát. Một con dao bổ cau có thể là vũ khí của bọn làm loạn. Lôi thôi dài ḍng lắm. Tốt hơn hết là phải biết điều.


Ông Giáo thắc mắc hỏi:


- Chúng nó loạn thế, quan trên có biết không?


Biện Nhạc đang đưa chén nước lên uống, ngưng lại nửa chừng, quay nh́n Ông Giáo, không tin một người từng trải như ông lại có thể hỏi như vậy. Thấy nét mặt Ông Giáo có vẻ thắc mắc thật t́nh, Ông Biện nói:


- Thầy tính, quan trên của chúng của chúng ta là ai? Là quan phủ chăng? Hoặc cao hơn nữa là triều đ́nh chăng? Tôi nghe nói quyền hành ở Phú Xuân đều nằm trong tay Quan Quốc Phó. Ở Phủ Quy Nhơn này, hai nguồn Trà Đinh, Trà Vân tiền thuế được Chúa cấp cho Quan Quốc Phó làm bổng lộc. Hằng năm thuế trên 2. 500 quan, chưa kể bạc tốt và đèn nhựa trám. Của ở đâu mà lắm vậy, nếu không có bọn lính kiểm tra các trạm thuế.


Nghe Biện Nhạc kể xấu bọn đàn em của Trương Phúc Loan, Ông Giáo thấy ḷng khấp khởi. Nhưng ông giấu không để lộ niềm vui ra nét mặt, giả vờ hỏi:


- Làm sao ông biết rơ thế?


Biện Nhạc nóng nảy nói:


- Làm sao ư? V́ chính tôi cũng là một tên chuyên nghề bóp hầu bóp họng dân đen nộp cho Quan Quốc Phó. Chỉ cần nghe chúng đằng hắng một tiếng, tôi đă biết trước chúng định nói ǵ. Chỉ có điều đáng thương là chúng nắm đồng tiền chưa nóng tay, quan trên đă chụp lấy, rồi lại nộp lên Quan Quốc Phó. Nghe nói, biệt thự ở Phấn Dương càng ngày càng rộng, nguy nga thêm, nên tốn nhiều của. Thưa Thầy, có đúng như thế không?


Ông Giáo dè dặt đáp:


- Tôi ở Kinh nhưng ít đi đâu xa. Vâng, nghe nói đồ sộ lắm. Chẳng kém ǵ vương phủ.


Mắt Biện Nhạc sáng lên, ông Biện ṭ ṃ hỏi:


- Thế Thầy đă được thấy cung điện nhà vua chưa?


Ông Giáo ngại ngùng một lúc, rồi ỡm ờ đáp:


- Thỉnh thoảng tôi có qua đó.


Ông Biện nôn nóng hỏi:


- Có rộng bằng Thành Đồ Bàn ở đây không Thầy?


- Tôi chưa thấy tận mắt Thành Đồ Bàn, chỉ nh́n qui mô các ngọn tháp th́ chắc lớn lắm. C̣n Thành Phú Xuân cũng đồ sộ. Thành xây dọc theo Sông Hương, h́nh vuông, từ ngoài vào đến cấm thành có ba lớp. Có tất cả bảy cửa vào. Cửa Ngọ Môn trông thẳng ra bờ sông.


- Nhà vua thiết triều ở đâu, thưa Thầy?


- Ngay ở điện phía trong Ngọ Môn. Mỗi tuần thiết triều hai lần. Quan vơ tùy cao thấp mà đứng hầu thứ tự ở bên tả. Quan văn bên hữu.


- Ngai vàng đặt ở giữa, phải thế không?


- Vâng, chiếc ngai thếp vàng được đặt trước một cái bàn, trên bàn thường có ống sứ quư cắm bút, một hộp ấn, một nghiên son.


- C̣n cấm thành?


- Đó là chỗ nhà vua ở, gồm năm ṭa, ṭa chính cao nhất ở trên có một vọng lâu có thể quan sát được cả kinh thành và quang cảnh sông núi quanh đó. Đặc biệt nội cung không xây bằng vôi, gạch, mà dựng toàn bằng gỗ, chạm trổ công phu. Cột nhà bằng gỗ quư màu cam, tường phủ màn gấm. Các thời trước cung điện c̣n đơn sơ. Nhưng từ thời Hiếu Vơ Hương, hoàng thành được xây dựng công phu tráng lệ như ta thấy ngày nay. Có người cho rằng cảnh phú quư ở Kinh Đô không thua Giang Nam mấy.


Biện Nhạc chợt hỏi:


- Mà sao Thầy biết tường tận thế?


Giáo Hiến giật ḿnh, vội nói:


- Tôi không đỗ đạt ǵ, nhưng có nhiều bạn bè thành danh, làm quan trong triều. Những kẻ có ḷng không sợ giao du với người thất thế vẫn đến thăm nom tôi luôn. Biết vơ vẽ vài chuyện vặt trong cung sâu là nhờ thế.


Ông Giáo tự đặt điều để giấu tông tích ḿnh, rồi chính những lời bào chữa bất đắc dĩ ấy, thấm dần vào tâm năo ông. Ḷng ông lâng lâng cái buồn của kẻ thất chí. Ông im lặng hồi lâu không nói tiếp được, trong khi Biện Nhạc trân trọng chờ ông kể tiếp. Đột nhiên, Ông Giáo ngậm ngùi bảo:


- Tôi trôi dạt về đây, may mà gặp ông. Không th́... Nhưng có đi đến đâu. Chẳng khác ǵ Đỗ Phủ gặp Lư Qui Niên ở Giang Nam, viết tặng bạn tri kỷ hai câu thơ:


Chính trị Gian Nam hảo phong cảnh


Lạc hoa thời tiết hựu phùng quân.


Nghĩa là:


Chính lúc phong cảnh Giang Nam đang đẹp


Giữa mùa hoa rụng, lại gặp anh.


Gặp ông giữa mùa hoa rụng, tôi hết thời, c̣n làm ǵ được.


Biện Nhạc không hiểu hết ư nghĩa hai câu thơ Ông Giáo vừa đọc, nhưng nét mặt Ông Giáo, giọng thơ buồn, những chữ vô nghĩa nhưng âm hưởng lê thê như tiếng vọng rầm ŕ từ những tiếng sấm xa trong núi, đă giúp Ông Biện hiểu thẳng tâm sự người Thầy dạy học của hai em.


Biện Nhạc chồm người tới phía trước, hai tay nắm bàn tay phải của Ông Giáo dặc dặc, kính cẩn nói:


- Thầy chưa hết thời đâu. Bọn dân núi chúng tôi đây, tuy không hay chữ, nhưng biết kính trọng người có chữ. Thầy sẽ giúp cho chúng tôi nhiều việc. Chúng tôi biết quư người tài. Chuyến xuống Mỹ Cang vừa rồi, tôi có gặp một người bạn buôn từ Cửa Hội vào. Anh ta nói có biết Thầy. Tôi nghe mừng lắm. Thầy chưa hết thời đâu.


Ông Giáo giật ḿnh, ngửng lên nh́n đăm đăm vào mặt Biện Nhạc ḍ xét. Ông Biện mỉm cười, giữ vẻ thản nhiên tự tin. Từ đó cho đến lúc chia tay về nghỉ đêm, câu chuyện giữa hai người trở lại ngắc ngứ, quanh co, nhạt nhẽo.



NGUYỄN MỘNG GIÁC

 

 

 

sách (S)


SÔNG CÔN MÙA LŨ / Nguyễn Mộng Giác

TÓM LƯỢC

 lịch sử

 PHẦN I: VỀ AN THÁI

chương 1

chương 2

chương 3

chương 4

chương 5

chương 6

chương 7

chương 8

chương 9

chương 10

chương 11

chương 12

 PHẦN II: TÂY SƠN THƯỢNG

chương 13

chương 14

chương 15

chương 16

chương 17

 PHẦN III: HỒI HƯƠNG

chương 18

chương 19

chương 20

chương 21

chương 22

chương 23

chương 24

chương 25

chương 26

chương 27

chương 28

chương 29

chương 30

chương 31

chương 32

chương 33

chương 34

chương 35

chương 36

chương 37

 PHẦN IV: PHƯƠNG NAM

chương 38

chương 39

chương 40

chương 41

chương 42

chương 43

chương 44

chương 45

chương 46

chương 47

chương 48

chương 49

chương 50

chương 51

chương 52

chương 53

chương 54

chương 55

 PHẦN V: VƯỢT ĐÈO HẢI VÂN

chương 56

chương 57

chương 58

chương 59

chương 60

chương 61

chương 62

chương 63

chương 64

chương 65

chương 66

chương 67

chương 68

chương 69

chương 70

chương 71

 PHẦN VI: PHÚ XUÂN

chương 72

chương 73

chương 74

chương 75

chương 76

chương 77

chương 78

chương 79

chương 80

chương 81

chương 82

chương 83

chương 84

chương 85

chương 86

chương 87

chương 88

chương 89

chương 90

chương 91

chương 92

chương 93

chương 94

chương 95

chương 96

 PHẦN KẾT TỪ

chương 97

chương 98

chương 99

chương 100

chương 101

Tài Liệu Tham Khảo

Tóm Lược