Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ TÔI PHẢI SỐNG





TÔI PHẢI SỐNG
Phần Một
Cuộc Đời và Bóng Đen
Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ





Vùng Bóng Đen



Lúc bấy giờ v́ thời cuộc đổi thay và cuộc sống có nhiều áp lực từ mọi phía nên tôi rất buồn phiền. Trong vai tṛ một Cha Sở, một mặt tôi lo chỉnh đốn lại đời sống của họ đạo sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, mặt khác tôi phải thường xuyên đương đầu với những vấn đề do một chính quyền vô thần luôn chống báng và t́m hết mọi cách để triệt hạ tôn giáo gây nên. Trong t́nh thế đó, tôi đă cố sống nhẫn nhục chờ cho cơn sốt thời cuộc qua đi, để tôi có thể sống yên thân để phục vụ dân chúng trong vùng nói chung, và cách riêng là giáo dân trong họ đạo thuộc về trách nhiệm của tôi.


Trong cuộc sống b́nh dị của một Linh Mục trong xứ đạo nhà quê, thực ra chẳng bận rộn ǵ nhiều. Hàng ngày tôi làm lễ vào buổi chiều, v́ sáng ngày dân chúng c̣n bận đi làm ruộng hay làm cá. Tôi dành phần lớn thời giờ trong ngày đi thăm viếng giáo dân và bà con trong vùng nói chung, không phân biệt tôn giáo. Tôi không thể tổ chức các lớp học giáo lư, v́ nhà nước cấm, nhưng dạy giáo lư dưới h́nh thức những lần tập trung trẻ con và thanh niên tới giúp ‘’tăng gia sản xuất’’, bằng việc trồng rau, trồng khoai ḿ, trồng mía... chung quanh Nhà Thờ. Ngoài các việc bổn phận trong họ đạo, lúc rảnh rỗi tôi t́m cách giải sầu bằng hai cách: Câu cá và học đàn Vọng Cổ.


Tôi mê câu cá ngay từ nhỏ, bởi tôi được sinh ra và lớn lên ở ruộng đồng có nhiều sông rạch và tôm cá ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cái ‘’máu’’ câu cá nó đă nằm sẵn trong huyết quản tôi từ những năm c̣n thơ ấu, c̣n chạy nhảy tung tăng ở ruộng đồng nhà quê. Sau này khi lớn lên rồi cũng vậy. Ngay cả sau khi đă làm Linh Mục rồi, mỗi khi có dịp cầm cần câu trong tay ngồi bên bờ sông là tôi quên hết sự đời. Nếu được ngồi trên chiếc thuyền đang thả neo giữa ḍng sông rộng mênh mông mà câu cá th́ không c̣n ǵ thú vị hơn.


Vùng La Mă nơi tôi ở lúc đó là vùng nước lợ, c̣n gọi là nước ‘’pha chè’’, không mặn mà cũng không ngọt hẳn, v́ là nhánh sông sát gần ngay biển. Khúc sông này có rất nhiều tôm cá, nhất là cá ngát là loại cá không vảy và có ba gai, hai cái ở hai bên mang và một ở giữa lưng. Nếu ai vô ư bị cá ngát đâm phải th́ chỉ c̣n nước ngồi đó mà kêu trời. Có lần chính tôi là một nạn nhân bị gai cá ngát đâm vào ngón tay, nọc độc trong gai cá hành tôi đau nhức không chịu thấu và lên cơn sốt suốt một ngày. Cánh tay bị cá đâm sưng to lên gần bằng bắp đùi.


Mặc dù vậy, khi cánh tay vừa hết sưng là tôi lại xuống sông câu cá. Có những lần câu được rất nhiều cá tôi phải mang tới cho giáo dân và bà con trong vùng. Nói chung, câu cá là thú giải trí thanh tao và vô thưởng vô phạt, dù vậy có lần tôi suưt bị rắc rối to v́ câu cá.


Một hôm tôi đang ngồi trên chiếc tam bản, tiếng miền Bắc gọi là thuyền, thả neo dưới bến Nhà Thờ để câu cá. Bổng từ xa có một người lạ mặt, đội mũ tai bèo khăn rằn quấn cổ, chèo chiếc xuồng nhỏ hướng về phía tôi. Cách ăn mặc ‘’mũ tai bèo, khăn rằn quấn cổ’’ là cái mốt thời thượng lúc bấy giờ. Nh́n thấy h́nh ảnh đó thôi, cũng đủ cho tôi biết, hoặc đoán biết người đó là ai, và trong ḷng tôi bắt đầu nghi ngại. Tới nơi anh ta cập ghe vào hỏi tôi:


- Anh là ai và ngồi làm ǵ ở đây?


Tôi lấy làm lạ v́ câu hỏi đó, nhưng cũng trả lời:


- Tôi là Cha Sở Nhà Thờ La Mă, tôi đang câu cá.


Người lạ mặt hỏi tiếp, giọng thắc mắc:


- Anh câu cá, mà cần câu anh đâu?


Tôi ngạc nhiên quá, hay anh này muốn giỡn chơi. Nhưng cách anh ta nói rất nghiêm túc, vả lại anh này là người tôi mới gặp lần đầu th́ làm ǵ có chuyện đùa giỡn. Tôi trả lời :


- Anh hỏi ǵ vậy, th́ tôi đang cầm cần câu đây anh không thấy à?


Người lạ mặt lộ vẻ ngạc nhiên, nh́n trừng trừng vào cần câu máy tôi đang cầm trong tay, anh chỉ cần câu và hỏi:


- Cái loại máy có cần ăng-ten và '’’dây trời’’ này, có kêu được máy bay B52 không? Tôi ném cần câu lên thuyền ngạc nhiên kêu lên:


- Anh nói cái ǵ? Cái ǵ mà có... B52 trong này?


Anh ta đứng lặng thinh tỏ vẻ nghi ngờ, làm tôi biết ngay là anh ta chưa bao giờ có dịp trông thấy cái mà người ta gọi là ‘’cần câu máy’’. Gọi là ‘’câu máy’’ nhưng thực ra nó chỉ là cái trục, để quấn dây cước vào và thả dây cước ra bên trong những cái khoen bằng sắt chạy dài theo cần câu khá dài, bằng chất nhựa dẻo, để thả xuống sông câu cá. Biết như vậy tôi vội quay nhanh dây cước lên, chỉ cho anh thấy ở cuối đầu dây có cục ch́ và lưỡi câu, móc vào lưng con tôm đang quơ râu quơ càng dùng làm mồi câu cá ngát. Chừng đó anh mới tin là cái mà tôi đang cầm trong tay không phải là cây ăng ten của một loại máy truyền tin hiện đại với ‘’dây trời’’ có thể gọi... B52. Cũng may là anh hỏi trực tiếp tôi, nếu anh âm thầm báo cáo loại... máy này lên cấp trên và nói tôi có dụng cụ gọi pháo dài bay B52 chắc là đời tôi đă khốn nạn sớm hơn rồi.


Thú giải trí thứ hai của tôi là học đàn Vọng Cổ. Lúc đó ở gần Nhà Thờ có một thanh niên ngoại giáo mù mắt tên là Tám Chánh. Tuy không có đạo nhưng anh hay tới Nhà Thờ chơi. Anh Tám Chánh có biệt tài đàn Vọng Cổ rất hay và anh dạy cho nhiều người, nhưng chỉ dạy văn nghệ thôi chứ không lấy tiền. Tôi thường mời anh tới nhà xứ chơi để đàn hát và dạy tôi đánh đàn cổ nhạc, lâu ngày rồi hai người thân nhau. Tám Chánh rất vui tánh, thích t́m hiểu và hỏi tôi về nhiều chuyện, từ chính trị, tôn giáo, xă hội. Tôi rất thương người bạn chẳng may bị mù ḷa này. Tôi nghe kể lại, lúc c̣n nhỏ cho tới lúc 3 tuổi, anh Tám Chánh là đứa trẻ b́nh thường như bao nhiêu trẻ con khác cho tới lúc anh bị đau mắt. Lúc đó sự hiểu biết về y học của dân chúng trong vùng này c̣n thô sơ. Không hiểu tại sao có người bày với gia đ́nh anh lấy cựa gà trống mài ra ḥa với nước và nhỏ vào mắt sẽ khỏi bệnh. Không ngờ sau khi nhỏ vào mắt, chẳng những không khỏi bệnh mà chất nước ấy c̣n làm nổ tung cả hai tṛng con mắt của anh. Bây giờ trên mặt anh chỉ c̣n lại hai cái hố sâu hoắm, thay v́ hai tṛng con mắt, và mí mắt anh lúc nào cũng nháy liên hồi. Nghe qua chuyện đó tôi càng thương anh nhiều hơn.


Nhớ có lần anh hỏi một câu làm tôi quá cảm động. Lúc đó tôi có nuôi một con chó Bắc Kinh nhỏ, tên là chó His. Lần nào tới chơi anh Tám Chánh cũng ôm nựng chó His v́ nó rất hiền và dễ thương, có lần vừa vuốt lưng nó, anh hỏi tôi:


- Chó His màu ǵ hả Cha?


Tôi đáp:


- Màu trắng có đốm màu vàng.


Anh suy nghĩ một lúc hỏi tiếp


- Màu vàng là thế nào hả Cha?


Bỗng nhiên tôi tấy tắt nghẹn ở cổ khi thương cho hoàn cảnh người bạn tật nguyền không thấy được màu sắc là vẻ đẹp của cuộc đời. Thấy tôi yên lặng anh hỏi tiếp.


- Cha, nói cho con nghe đi, màu vàng ra sao hả Cha?


Tôi cố trả lời tiếng được tiếng mất.


- Tôi không giải thích được anh Tám ạ.


Vừa nói tôi vừa chớp nhanh mí mắt.


T́nh bạn chúng tôi càng ngày càng sâu đậm và anh Chánh tận t́nh chỉ dạy tôi các ‘’ngón’’ đàn, tức là kỹ thuật chơi đàn Vọng Cổ. Có lần trong một buổi tật dượt, tôi hỏi anh:


- Anh Tám này, sao tiếng đàn của anh nghe năo nề, hay quá là hay, c̣n tôi đánh đàn như cứ nghe rầm rầm như tiếng vỗ thùng thiếc, tập hoài hổng được?


Anh Tám trả lời một câu làm tôi nín lặng:


- Muốn có tiếng đàn như con, Cha phải móc hai mắt của Cha liệng đi.


Th́ ra người bạn mù của tôi đă gửi hết tâm tư u buồn của kiếp người bất hạnh vào tiếng đàn của ḿnh. Anh có sáng tác ra 6 câu Vọng Cổ, có tên là ‘’Chuyện đời tôi’’, diễn tả tâm trạng u buồn trong kiếp sống lặng lẽ âm thầm của anh. Mỗi lần ngồi nghe anh vừa đàn vừa hát bản Vọng Cổ đó, tôi xúc động vô cùng. Nhưng anh chỉ ca bản đó ở chỗ riêng tư và không bao giờ ca khi có đông người, cho dù yêu cầu cách mấy anh cũng không nhận lời.


Có những lần tôi tới nhà thăm anh, trong lúc mọi người đi vắng, anh Tám Chánh ngồi đánh đàn một ḿnh các say sưa không biết có tôi đứng bên. Lúc đó tôi bất giác nói một ḿnh:


‘’Anh Tám nói đúng, người có đôi mắt sáng không thể nào có được tiếng đàn này’’. Tôi rất thích thể điệu âm nhạc Vọng Cổ, và sau này tôi cũng biết đa số các người miền Nam cũng đều thích như tôi. Nhất là khi anh Tám Chánh đă dạy tôi đánh đàn vọng cổ và chơi được chút ít th́ càng say mê hơn. Nhớ lại thời gian đó có đôi ba lần tôi cũng phải đi đào đất làm thủy lợi chung với bà con trong vùng. V́ đi đào thủy lợi khá xa trong mấy ngày liền nên chúng tôi mang theo gạo để nấu cơm. Ban ngày đào đất, chiều lại, tôi và một số thanh niên tập trung tại sân nhà một người dân nào đó trong vùng để nấu ăn và sau đó ngồi quây quần nhau đàn hát cổ nhạc trước lúc đi ngủ. Nếu đêm đó có trăng nữa th́ càng nên thơ. Khổ nỗi, tôi thích Vọng Cổ mà lại không biết hát, mặc dù vậy nghe những người hát Vọng Cổ thật mùi có chỗ làm tôi rưng rưng nước mắt. Có mấy người chọc tôi là ‘’mít ướt”, nghĩa là dễ khóc, nhưng không hiểu sao khi nghe một vài bài Vọng Cổ thương tâm tôi không cầm ḷng được.


Lúc tôi mới về họ đạo La Mă, là lúc mà cơn sốt thời cuộc lên cao ngất từng mây. Có những con người bị sơn sốt thời cuộc hành căng quá không chịu nổi, họ phải làm hết mọi cách để chứng tỏ ḿnh là người ‘’cách mạng’’. Thậm chí có kẻ t́m cách triệt hạ người khác, mà họ cho là ‘’không cách mạng’’, để chứng tỏ ḿnh là người ‘’cách mạng’’. Có lần, tôi đi xe gắn máy từ Bến Tre về họ đạo, khi gần tới nhà bị mấy anh du kích ‘’cách mạng’’ chặn lại trên đường. Một anh mặt mày đen đúa, mang súng AK, đội mũ tai bèo, khăn rằn quấn cổ, bước tới giật lấy cái mũ lưỡi trai tôi đang đội ném xuống đất, giận dữ quát:


- Tới lúc này mà anh c̣n đội kết của thằng Kỳ à?


Tôi chẳng hiểu anh ta muốn nói ǵ, nên hỏi lại:


- Anh nói ǵ tôi không hiểu, đây là kết của tôi mua chứ của thằng Kỳ nào?


Anh du kích bực ḿnh, chỉ vào mặt tôi đe dọa:


- Đây là loại kết đồi trụy của thằng Nguyễn Cao Kỳ nó đội anh hiểu chưa? Bộ anh muốn bắt chước thằng Kỳ hả?


Tôi chợt hiểu ra v́ ông Nguyễn Cao Kỳ có lần đội kết đen giống như vậy, nên cái loại kết đó đương nhiên trở thành đồi trụy. Tôi chẳng hỏi thêm ǵ, chỉ đứng yên một cách ngán ngẩm và chịu trận cho anh du kích mắng nhiếc một hồi và cho tôi đi. Lúc nổ máy xe chạy đi rồi, tôi mới mỉm cười nghĩ thầm là mất cái kết đen, tôi vẫn c̣n may mắn. Nếu anh ‘’cách mạng’’ lúc năy nói cái quần tôi đang mặc là quần của... ‘’thằng Kỳ’’, chắc là hôm đó tôi gặp chuyện ngượng ngùng chết người.


Nhưng sự đời, hể cái ǵ lên quá cao rồi cũng có lúc cũng phải xẹp xuống. Cơn sốt thời cuộc trong vùng La Mă này cũng theo quy luật đó. Sau đó không lâu, trong xă phát động đợt học tập ‘’đóng nghĩa vụ’’, và tất cả mọi người ai có vườn có ruộng đều phải tới học tập. Họ đạo cũng có mấy công đất vườn trồng dừa, nên tôi cũng phải có mặt. Điều tôi ghi nhận rất rỏ là cơn sốt thời cuộc đă làm cho nhiều người trở thành điên loạn mấy tháng trước đây đột nhiên trở thành cơn giá băng sau đợt học tập đóng nghĩa vụ này.


Đợt học tập để bắt người dân đóng thuế, nhưng được gọi cái tên đẹp là ‘’đóng nghĩa vụ’’ này, được tổ chức ngay trong một lớp của trường học họ đạo của tôi. Có mấy cán bộ cấp Tỉnh xuống giúp cho chánh quyền địa phương, dạy cho người dân biết cách đóng ‘’nghĩa vụ’’ thế nào cho nó tốt.


Sau đợt học tập, với nhiều bài thuyết giảng tràng giang đại hải, mỗi gia đ́nh có ruộng có vườn được ‘’cách mạng’’ ban chỉ tiêu đóng thuế cắt cổ. Một chỉ tiêu đóng thuế nặng chưa từng thấy. Ngay cả trong chế độ mà người ta gọi là ‘’Mỹ Ngụy’’ cũng chưa bao giờ bà con trong vùng này phải đóng thuế vườn thuế ruộng với chỉ tiêu cắt cổ như thế.


Cơn sốt thời cuộc trong vùng tôi, ngày hôm đó, vụt xẹp đi như bánh xe bơm cứng, bị cán phải đinh. Nhiều gia đ́nh cách mạng quá phẫn uất, chửi rủa tùm lum v́ cái chỉ tiêu ‘’đóng nghĩa vụ’’ chóng mặt vừa mới được cách mạng ưu ái ban cho. Có mấy bà ‘’mẹ chiến sĩ’’ đă lớn tuổi, miệng nhai trầu bỏm bẻm, ăn nói rất bạo mồm bạo miệng. V́ bực quá chịu không nỗi nên chửi thẳng, theo cái kiểu người ta thường ví:‘’trâu già không sợ dao phay’’. Có bà phùng mang, trợn má đứng chửi giữa đám đông ai nghe th́ nghe:‘’Đéo mẹ chúng bây. Nếu tao biết nông nỗi này th́ ngày trước tao đấm đách có thèm mà chứa chấp tụi bây trong nhà tao’’. Sau đó tôi biết, bà con bực th́ chửi cho hả hơi c̣n ‘’nghĩa vụ’’ th́ vẫn phải đóng đủ. V́ đóng thuế không đủ ‘’cách mạng’’ sẽ có biện pháp khác, và không ai muốn rơi vào biện pháp đó, cho dù là những ‘’gia đ́nh cách mạng’’, hoặc những người vẫn nghĩ là ḿnh có công với cách mạng.


T́nh trạng giữa tôi và chánh quyền địa phương càng ngày càng trở nên căng thẳng. Do đó, tôi biết sự có mặt của tôi lúc bấy giờ là một chướng ngại và là cái gai trong con mắt của nhiều người, ngay cả những người có mặt trong họ đạo trước tôi. Sau gần một năm, tôi cảm thấy không thể sống và làm việc hữu hiệu tại Giáo Xứ. Hơn nữa, má tôi đang đau ốm nặng, nên tôi tŕnh bày hoàn cảnh với Giám Mục và được chấp thuận cho tôi được ra khỏi họ đạo. Tôi được lệnh bàn giao họ đạo lại cho Cha Quang, Cha Sở họ Đạo Cái Bông để về nhà quê lo lắng cho mẹ già. Cha Quang đă từng phụ trách họ đạo này trước khi cộng sản chiếm miền Nam, Cha Quang là anh của Cha Thạnh, người bạn Linh Mục thân nhất của tôi, lúc bấy giờ đang làm Cha Sở họ Đạo Quới Sơn cũng thuộc Tỉnh Bến Tre.


Thạnh và tôi cùng tuổi. Chúng tôi chơi thân ngay từ những năm c̣n học ở Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long. Năm 1963 chúng tôi lên Sài G̣n và học chung lớp trong bảy năm tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse, số 6 Đường Cường Để. Đại Chủng Viện Thánh Giuse là Chủng Viện Miền, đào tạo Linh Mục cho 7 địa phận miền Nam, v́ lúc bấy giờ các địa phận, tiếng miền Bắc là Giáo Phận, chưa có Đại Chủng Viện riêng. Sau khi măn khóa, Thạnh và tôi cùng được thụ phong Linh Mục vào năm 1970, và cả hai về làm việc tại địa phận Vĩnh Long v́ chúng tôi thuộc về địa phận này.


Về địa dư, địa phận Vĩnh Long bao gồm bốn Tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và Sa Đéc với khoảng trên dưới 150. 000 giáo dân. Thạnh được bổ nhiệm làm Cha Phó Nhà Thờ Chánh Ṭa Vĩnh Long, c̣n tôi làm Phó Xứ Sa Đéc, cách nhau độ 20 cây số. Thỉnh thoảng chúng tôi tới lui thăm nhau và t́nh bạn càng thêm thắm thiết. Tuy là đôi bạn thân, nhưng cuộc đời của Thạnh và tôi rất khác biệt nhau. Thạnh có cuộc sống trầm lặng, tánh t́nh ḥa dịu và vóc dáng ốm yếu. Tuy thế cuộc đời ưu đăi anh về nhiều phương diện. Sau hai năm làm Cha Phó Nhà Thờ Chánh Ṭa, Thạnh được bổ nhiệm làm Cha Sở họ Đạo Quới Sơn, gần Cầu Bắc Rạch Miễu, trong Tỉnh Bến Tre vào đầu năm 1973. Khi cộng sản chiếm miền Nam, Thạnh vẫn đang ở đó. Tôi nghĩ là Thạnh sẽ c̣n ở Quới Sơn lâu dài, v́ từ ngày chiếm được miền Nam, nhà nước cộng sản đă trắng trợn can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, không cho các Giám Mục được quyền thuyên chuyển các Linh Mục. Muốn đổi một Linh Mục nào phải có sự đồng ư của chánh quyền, nói chung là ai đang ở đâu cứ ở đó.


Phần tôi khác hẳn với Thạnh, cuộc sống tôi đầy thăng trầm và nhiều biến động. Đúng là số kiếp của mỗi con người. Dù ai không muốn tin cũng phải tin rằng ở trên đời mỗi người đều có một cái số mà Văn Hào Nguyễn Du đă nói lên từ lâu:


‘’Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao’’.


Điều thật trớ trêu, sau khi bàn giao họ Đạo Cha Cha Quang xong, chánh quyền sở tại, xă Hiệp Hưng, lại không cấp cho tôi giấy đi đường. Họ không cho tôi rời khỏi xă, lấy lư do là sau khi bầu cử quốc hội khóa 6, là quốc hội chung cho cả nước, có lệnh không cho ai rời khỏi địa điểm cư trú. Tôi hiểu ngay việc ǵ sẽ xảy ra cho tôi sau lời giải thích này và tôi đă chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những t́nh huống xấu nhất có thể xảy ra. Hôm sau, tôi trở lại ủy ban nhân dân xă Hiệp Hưng để xin giấy đi đường một lần nữa để về quê thăm má tôi đang đau nặng. Qua thái độ cứng rắn quyết liệt của tôi, họ đă buộc ḷng phải cấp cho tôi giấp phép đi đường chỉ có hiệu lực trong 3 ngày.


Quê tôi ở Tỉnh Vĩnh Long, cách Bến Tre hơn trăm cây số và phải qua 2 lần Bắc, tiếng miền Bắc gọi là phà, Bắc Rạch Miễu nối liền hai Tỉnh Bến Tre-Mỹ Tho và Bắc Mỹ Thuận trên đường từ Sài G̣n xuống các Tỉnh miền Tây.





Linh Mục NGUYỄN HỮU LỄ

 

 

 

sách (T)


Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ TÔI PHẢI SỐNG

   mục lục

Tựa

Phần Một Cuộc Đời và Bóng Đen

Vào Chuyện

Chiếc Nôi Dân Tộc

Nhà Chung Hà Nội

Hồng Y Trịnh Văn Căn

Vị Giám Mục Phụ Tá

Nét Truyền Thống

Vết Tích Thời Gian

Cuốn Phim Quay Chậm

1 Bước Ngoặt Cuộc Đời

Vùng Bóng Đen

Vùng Kỷ Niệm

Chuyến Đ̣ Ngang

Những Giá Trị Tinh Thần

Việt Nam Đau Thương

Cuộc Cờ Người

Tỉnh Cơn Mê

Thành Phố Mỹ Tho

Đường Xưa Lối Cũ

Chuyện Một Chiếc Cầu

Tuổi Thơ Thời Chiến

T́nh Cảnh Gia Đ́nh

Xa Rời Điểm Tựa

Bước Thời Gian

Ơn Sinh Thành Dưỡng Dục

Các Nữ Tu

Chân Trời Mới

Cái Thú Nhà Quê

Sợ Trường Học

Nhận Diện Cuộc Đời

Thảm Cảnh Gia Đ́nh

‘’Thày Bảng Mới’’

Thời Kỳ Phá Ngu

Tuổi Trẻ Ngô Nghê

Biến Cố Vĩ Đại

Nôn Nao Cùng Cực

Khổ V́ Cái Quần

Thế Giới Mới

Tô Phở Đầu Đời

Những Cuộc ‘’Họp Báo’’

Hai Vị Linh Mục

Cảnh Chợ Chiều

Bước Đầu Lên Tỉnh

Ư Hướng Làm Linh Mục

Cuộc Đảo Chánh

Xáo Trộn Chính Trị

Khủng Hoảng Uy Quyền

Bước Chân Vào Đời

Kết Thúc Ván Cờ

Trở Về Thực Tại

Cảnh Tượng Hăi Hùng

Chặng Cuối Đoạn Đường

Phần Hai

2 ‘’Đêm Tân Hôn’’ Giữa Tây Nguyên

Người Bạn Đồng Hành

Đi Về Đâu?

Người Bạn Bất Đắc Dĩ

Chiều Cao Nguyên

Điểm Hẹn

Quận Lỵ Biên Giới

Chim Rẽ Đàn

Hạnh Ngộ Bất Ngờ

Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Ǵ

Cơn Sốt Thời Cuộc

Tṛ Hề Thế Sự

Quay Về Thực Tại

Phần Ba

Tàu Sông Hương

Trại Gia Ray

‘’Đại Hội’’ Ruồi Xanh

Đợi Chờ Trong Đau Khổ

Người Bạn Tù Linh Mục

Chuyện Năm Xưa

Vĩnh Biệt Cha Khâm

Trước Giờ Chia Tay

Nỗi Buồn Chia Ly

Những Bước Đầu

Tin Chuyển Trại

Tung Hỏa Mù

Con Đường Vô Định

Giă Biệt Miền Nam

Hy Vọng và Hy vọng

Biển Vẫn Đợi Chờ

Trù Tính Kế Hoạch

Đi Vào Chi Tiết

Tế Sống Dũng Sĩ

Ư Trời

Ân Oán Giang Hồ

Cảng Hải Pḥng

Phần Bốn

Lần Ra Đất Bắc

Bến Cảng Hải Pḥng

Giai Đoạn Mới

Tŕnh Diện Học Tập

Bọn Ăng-ten

Học Tập Khai Báo

Lựa Chọn Thái Độ

Bàn Tay Sắt Bọc Nhung

Những Ngày Cuối Năm

Đêm Thánh Vô Cùng

Bài Thánh Ca Giáng Sinh

Phần Năm

Đường Lên Cổng Trời

Cái Lạnh Khủng Khiếp

Đêm Giá Băng

Trại Quyết Tiến ‘’Cổng Trời’’.

Cơn Đói Trong Cảnh Rét

Nhân Vật Lạ Xuất Hiện

Chân Dung Ông Trại Trưởng

Trong Hầm Ướp Lạnh

Gặp Lại Nhóm Bạn

Trận Say Sắn Nhớ Đời

Đóng Quan Tài

Tù Chết Nuôi Tù Sống

Người Anh Kết Nghĩa

Đại hội ‘’Rận’’.

Người Tù Lạ Mặt

Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên

Hết Thiên Nhiên Tới Con Người

Dưới Trướng Của Lưu Manh

Ngày Phục Sinh

Phần Sáu

Trở Lại Trần Gian

Cơi Tiên và Địa Ngục

Trở Lại Trần Gian

Tổ Chức Trong Trại

Hai Anh Trật Tự

Trại Tù Thanh Cẩm

Trật Tự ‘’Giả Cầy’’

Nhóm Tù Quân Đội

Nhân Vật Mới Xuất Hiện

Chọn Thế Đứng

‘’Trung Quốc Vĩ Đại’’.

Gặp Lại ‘’Cố Nhân’’

Phần Bảy

Cái Giá của Tự Do

Vượt Ngục và Vượt Ngục.

Dụng Cụ Đào Tường

Dốc Tâm Chuẩn Bị

Thử Thách Đầu Tiên

Đợi Chờ Trong Âu Lo

Phần Tám

Canh Bạc Cuộc Đời

Điềm Chẳng Lành: Tắt Đèn.

Mũi Dao Định Mệnh

Đào Sống Đào Chết.

Cái Giá Của Tự Do

Dưới Ḍng Sông Mă

Giây Phút Kinh Hoàng

Cái Giá Phải Trả

Phần Chín

Chuyện Thương Tâm

Mạng Người Thứ Nhất

Đi Vào Cơi Chết

Lần Xuống ‘’Đáy Địa Ngục’’

Mạng Người Thứ Hai

Phần Mười

‘’Tôi Phải Sống’’

Họa Vô Đơn Chí

Nợ Đời Chưa Dứt

Bước Đường Cùng

Cơn Điên Loạn

Vài Lời Về Trương Văn Phát

Lon Nước Ân T́nh

Gió Thoảng Trưa Hè

Phần Mười Một

Tầng Đầu Địa Ngục

Kỹ Thuật Kiến Trúc

Nhà Cầu ‘’Nổi’’

Cơn Mưa Trái Mùa

Ăn Để Sống

Cái Lưỡi Mèo

Những Thường Trú Nhân

Những Khách Kiều Cư

Học Tiếng Phổ Thông

Bầy Ác Thú Trong Cơn Đói

Những Khách Văng Lai

Hoa Lạc Giữa Rừng Gươm

Tướng Cướp B́nh Thanh

Luật Giang Hồ

Nhân Vật "Sữu Què (can check lai

Cuộc Tương Phùng

Tư Cách Một Đàn Anh

Kiếp Sống Giang Hồ

Giai Nhân Và Tướng Cướp

Anh Hùng Náo

Phút Chia Tay

Gạt Lệ Ra Đi

Phần Mười Hai

Ngày Trở Về

Hát Lâu Chầu Mỏi

Cỏ Dại Được Mùa

T́nh Thế Đổi Thay

Cây Đa Cũ, Bến Đ̣ Xưa

Ṿng Tṛn Khép Kín

Gió Mát Trưa Hè

Giờ Thứ Hai Mươi Lăm

Anh Em Chia Ĺa

Nhận Ra Ư Chúa

Câu Chuyện Hăi Hùng

Chúa Nói Trong Con

Đội Khai Thác Đá

Biểu Lộ T́nh Người

Cộng Đoàn T́nh Thương

Cánh Hoa Đồng Nội

Cuối Chặng Đường

Kẻ Ở Người Đi

Quăng Đường Trước Mặt

Cuối Chuyện

Tờ Giấy Ra Trại

Bài Học Của Trường Đời

Dân Tộc Việt Nam Của Tôi

Cuộc Chiến Chưa Tàn

Can Đảm và Khoan Dung

Bước Vào Tương Lai Vô Định

Trở Về Hiện Tại

Phụ Chương

Phụ Chương Một: Cái Chết Của Tướng Cướp B́nh Thanh.

Phụ Chương Hai: Những Cuộc Gặp Gỡ

Phụ Chương Ba: Hoạt Động Tại Hải Ngoại

Phụ Chương Ba: Theo Bước Chân Người Linh Mục

Phụ Chương Ba: Nặng Với Quê Hương Một Tấm Ḷng

Phụ Chương Ba: Thời Điểm Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ Tôi Phải Sống